Luật Dân cư Mexico (2)
Các công dân Mexico mỗi khi nhập cảnh phải chứng minh quốc tịch, kiểm tra y tế khi cần thiết và cung cấp các số liệu thống kê được yêu cầu.
Chương II - DI CƯ
Điều 7. Văn phòng Chính phủ chịu trách nhiệm về những vấn đề thuộc lĩnh vực này như sau:
1. Tổ chức và điều phối các dịch vụ xuất nhập cảnh khác nhau.
2. Quẩn lý việc xuất nhập cảnh của công dân trong nước và người nước ngoài. Kiểm soát giấy tờ của những người xuất, nhập cảnh.
3. Thực thi luật này và các văn bản dưới luật liên quan.
4. Thực thi các quyền hạn khác mà luật này và các văn bản dưới luật, cũng như các Luật và văn bản dưới luật khác quy định.
Trong quá trình thực thi các quyền hạn nêu trên, Văn phòng Chính phủ phải đảm bảo sự tôn trọng nhân quyền, và đặc biệt là sự toàn vẹn gia đình của các đối tượng được điều chỉnh bởi luật này.
Điều 8. Các dịch vụ xuất nhập cảnh bao gồm: Trong nước và ở nước ngoài.
Điều 9. Văn phòng Chính phủ sẽ thành lập các văn phòng ở trong nước để đảm nhiệm các dịch vụ xuất nhập cảnh; Dịch vụ xuất nhập cảnh ở nước ngoài sẽ do các đại diện của Văn phòng Chính phủ và các thành viên của Cục phục vụ đối ngoại Mêhicô và các cơ quan, tổ chức khác, với chức năng trợ giúp, do Văn phòng Chính phủ chỉ định, chịu trách nhiệm.
Điều 10. Việc xác định địa điểm quá cảnh qua các cảng biển, sân bay và cửa khẩu biên giới của tất cả mọi người cũng như sự giám sát việc thực thi thuộc trách nhiệm của cơ quan duy nhất là Văn phòng Chính phủ, với sự tham gia ý kiến của các bộ, ngành: Tài chính và kho bạc nhà nước, Giao thông và vận tải, Y tế và cứu hộ, Ngoại giao, Nông nghiệp và chăn nuôi và trong trường hợp cần thiết của quân chủng Hải quân cũng như của các cơ quan, tổ chức khác do Văn phòng Chính phủ xác định.
Điều 11. Việc quá cảnh quốc tế của người qua các hải cảng, sân bay và cửa khẩu biên giới chỉ được phép thực hiện qua các địa điểm đã được xác định cho họ và trong thời hạn quy định, có sự giám sát của cục quản lý xuất nhập cảnh.
Điều 12. Văn phòng Chính phủ có quyền đóng cửa tạm thời các hải cảng, sân bay và cửa khẩu vì các lý do liên quan đến lợi ích công cộng.
Điều 13. Các công dân trong nước và người nước ngoài, mỗi khi xuất nhập cảnh phải làm đầy đủ các thủ tục do Luật quy định, cũng như các quy định của các văn bản dưới luật của Luật này và các quy định pháp luật hiện hành khác.
Điều 14. Văn phòng Chính phủ kiểm soát việc thực thi các quy định về thống kê quốc gia liên quan đến dịch vụ xuất nhập cảnh. Để thực hiện yêu cầu này, mỗi khi xuất nhập cảnh, những người thực hiện quy định tại điều 18 và 19 của Luật này, phải cung cấp các số liệu cần thiết.
Điều 15. Các công dân Mêhicô mỗi khi nhập cảnh phải chứng minh quốc tịch, kiểm tra y tế khi cần thiết và cung cấp các số liệu thống kê được yêu cầu. Trong trường hợp họ mắc một bệnh truyền nhiễm nguy hiểm, các nhà chức trách quản lý xuất nhập cảnh sẽ làm các thủ tục để họ được điều trị tại các địa điểm do Cơ quan y tế chỉ định.
Điều 16. Nhân viên Cục quản lý xuất nhập cảnh có quyền ưu tiên kiểm tra, ngoại trừ về mặt y tế, việc xuất nhập cảnh của tất cả mọi người, không kể họ xuất nhập cảnh trên các phương tiện giao thông trong nước hay quốc tế bằng đường biển, đường hàng không hay đường bộ; qua bờ biển, hải cảng, cửa khẩu biên giới hay sân bay của nước Cộng hòa.
Điều 17. Tất cả các nội dung liên quan đến việc kiểm tra và kiểm soát người quá cảnh có tính chất quốc tế, trên các phương tiện giao thông vận tải đường biển, đường bộ và đường hàng không, đều thuộc trách nhiệm của Cục Quản lý xuất nhập cảnh, trừ việc kiểm tra y tế.
Điều 18. Đại diện của các Chính phủ nước ngoài và gia đình họ cùng với các nhân viên phục vụ, tất cả các cá nhân mà theo quy định của các Hiệp ước, Hiệp định và thông lệ quốc tế, được hưởng quyền miễn trừ xét xử pháp lý lãnh thổ nhập cảnh với mục đích công vụ sẽ được miễn các nội dung kiểm tra quy định trong điều 16 của Luật này, với điều kiện giữa 2 nước có sự công nhận lẫn nhau về quyền này.
Điều 19. Các quan chức của các Chính phủ nước ngoài nhập cảnh với mục đích công vụ sẽ được cung cấp mọi thuận lợi cần thiết, theo thông lệ quốc tế và các quy định về quan hệ có đi có lại.
Điều 20. Văn phòng Chính phủ sẽ ban hành văn bản dưới Luật, căn cứ vào đặc điểm riêng biệt của từng vùng, để quy định việc viếng thăm của người nước ngoài đối với các khu vực dân cư ven biển, biên giới và các sân bay có quá cảnh quốc tế, cũng như đối với giao thông vận tải hàng ngày giữa các khu dân cư gần biên giới và các khu vực lân cận của nước ngoài; nhưng trong mọi trường hợp phải luôn tôn trọng các điều đã thỏa thuận trong các Hiệp ước, Hiệp định và điều ước quốc tế đã ký kết về các vấn đề nêu trên.
Điều 21. Các doanh nghiệp giao thông vận tải đường biển, đường hàng không và đường bộ, thông qua nhân viên của mình chịu trách nhiệm bảo đảm rằng các hành khách mà họ chuyên chở để nhập cảnh, có đầy đủ giấy tờ cần thiết.
Điều 22. Không một hành khách hay thủy thủ nào của các phương tiện giao thông, vận tải hàng hải được phép cập cảng trước khi các nhà chức trách quản lý xuất nhập cảnh tiến hành mọi công việc kiểm tra cần thiết.
Điều 23. Các thành viên thủy thủ đoàn, phi hành đoàn hoặc các nhân viên điều khiển các phương tiện giao thông vận tải đường bộ là người nước ngoài, chỉ được phép lưu trú trên lãnh thổ quốc gia trong thời hạn cho phép. Các chi phí phát sinh từ việc trục xuất họ hoặc buộc họ phải xuất cảnh, sẽ do các chủ sở hữu của các phương tiện giao thông vận tải đó, hoặc người đại diện cho họ trang trải; không kể đó là doanh nghiệp, tổ chức thuộc bất cứ thành phần kinh tế nào hay là cá nhân.
Điều 24. Các chỉ huy tổ lái máy bay, thuyền trưởng tàu thủy và lái xe của xe ô tô khách, phải xuất trình các nhà chức trách quản lý xuất nhập cảnh trong khi tiến hành kiểm tra xuất nhập cảnh, danh sách hành khách và nhân viên phi hành đoàn, thủy thủ đoàn và tổ lái, cũng như những số liệu cần thiết về nhận dạng của họ.
Điều 25. Không cho phép việc nhập cảnh của người nước ngoài mà không hội đủ các điều kiện quy định bởi Luật này và các văn bản dưới luật khác, trừ trường hợp đặc biệt được quy định tại khoản 10, điều 42 của Luật này.
Điều 26. Những người nước ngoài đi trên các phương tiện giao thông vận tải hàng hải quá cảnh mà đã được các nhà chức trách quản lý xuất nhập cảnh cho phép cập một cảng nào đó trên lãnh thổ quốc gia, sau đó vì bất kỳ một lý do nào đó ngoài ý muốn, họ phải ở lại trên bờ một cách bất hợp pháp trong khi tàu thuyền của họ đã rời cảng, thì họ phải trình diện ngay lập tức tại một văn phòng quản lý xuất nhập cảnh gần nhất. Trong trường hợp này, văn phòng đó sẽ phải có ngay biện pháp cần thiết để họ có thể xuất cảnh ngay lập tức.
Điều 27. Những người nước ngoài mà việc nhập cảnh của họ bị Cục Quản lý xuất nhập cảnh từ chối do không có đủ giấy tờ xuất nhập cảnh hoặc giấy tờ không hợp lệ, cũng như những người lang thang, sẽ phải xuất cảnh trên các phương tiện giao thông vận tải của doanh nghiệp đã chở họ đến với các chi phí do doanh nghiệp này chịu, không kể những biện pháp trừng phạt mà họ phải gánh chịu theo quy định của Luật này.
Điều 28. Không một phương tiện giao thông vận tải hàng hải nào được phép rời các cảng trên lãnh thổ quốc gia, trước khi các nhà chức trách quản lý xuất nhập cảnh tiến hành việc kiểm tra xuất cảnh và cấp giấy phép xuất nhập cảnh cho họ, trừ những trường hợp bất khả kháng theo các quy định của lực lượng hải quân và các cơ quan chức năng khác.
Điều 29. Các văn bản dưới luật tương ứng sẽ quy định những điều khoản về kiểm soát các thủy thủ nước ngoài của các phương tiện giao thông vận tải hàng hải thuộc bất kỳ quốc tịch nào, cập các bến cảng trên lãnh thổ quốc gia; đồng thời cũng quy định các điều kiện cho phép thăm viếng hoặc nhập cảnh đối với các thủy thủ đó.
Điều 30. Không cho phép bất kỳ tàu thuyền hoặc phương tiện giao thông vận tải hàng hải quốc tế nào được thăm viếng mà không có sự cho phép trước của các nhà chức trách quản lý xuất nhập cảnh và y tế.
Điều 31. Các doanh nghiệp giao thông vận tải chịu trách nhiệm tài chính đối với những hành vi vi phạm Luật và các văn bản dưới luật của luật này, của các nhân viên được doanh nghiệp ủy quyền hay người đại diện của họ; không kể các trách nhiệm cá nhân trực tiếp mà những người vi phạm phải gánh chịu.
Võ Anh Dũng
Trung tâm Thông tin - Tư liệu - Tổng cục DS- KHHGĐ tổng hợp























