Lấy sự tiến bộ của học sinh làm thước đo chất lượng
Năm học 2026 - 2027, ngành giáo dục Đà Nẵng xác định trọng tâm là bảo đảm đủ trường lớp, giáo viên và tạo chuyển biến thực chất về chất lượng dạy và học. Báo và phát thanh, truyền hình Đà Nẵng có cuộc trao đổi với bà Lê Thị Bích Thuận, Giám đốc Sở Giáo dục và Đào tạo thành phố xung quanh công tác chuẩn bị năm học mới và những chính sách về công bằng giáo dục.

Bà Lê Thị Bích Thuận - Giám đốc Sở Giáo dục và Đào tạo thành phố Đà Nẵng. Ảnh: NGỌC PHÚ
- Thưa bà, ngành giáo dục thành phố có giải pháp như thế nào để khắc phục tình trạng thiếu giáo viên cục bộ, bảo đảm nguồn nhân lực, nâng cao chất lượng dạy và học?
- Bà Lê Thị Bích Thuận: Với sự quan tâm của thành phố và sự chủ động của Sở Giáo dục và Đào tạo, các địa phương, tình trạng thiếu giáo viên cục bộ tại Đà Nẵng đã có chuyển biến tích cực. Đến nay, ngành cơ bản ổn định tỷ lệ giáo viên/lớp ở các cấp học.
Tuy nhiên, một số môn vẫn thiếu nguồn giáo viên, như Tiếng Anh, Tin học ở cấp tiểu học; Âm nhạc, Mỹ thuật, Hoạt động trải nghiệm, hướng nghiệp ở cấp THPT. Khó khăn tập trung tại các xã có khu công nghiệp, nơi dân số cơ học tăng nhanh và một số xã miền núi do địa bàn rộng, khó thu hút giáo viên các môn đặc thù.
Ngay sau khi kết thúc năm học 2025 - 2026, Sở Giáo dục và Đào tạo phối hợp UBND các phường, xã rà soát nhu cầu tuyển dụng trên cơ sở biên chế tạm giao năm 2026, với tổng số 3.175 chỉ tiêu, gồm 609 giáo viên mầm non, 1.325 giáo viên tiểu học, 1.113 giáo viên THCS và 128 giáo viên THPT.
Năm học 2026 - 2027, số học sinh và số lớp tiếp tục tăng. Các trường công lập trực thuộc Sở Giáo dục và Đào tạo tăng 9.241 học sinh, tương ứng 139 lớp; các trường công lập trực thuộc UBND các xã, phường tăng 8.798 học sinh, tương ứng 379 lớp so với năm học 2025 - 2026. Trong khi đó, tổng nhu cầu biên chế sự nghiệp giáo dục cho năm học 2026 - 2027 là 42.680 người. Số biên chế được giao hiện thấp hơn nhu cầu 5.349 chỉ tiêu.
Để bổ sung nhân lực, HĐND thành phố đã thông qua nghị quyết giao 3.319 chỉ tiêu hợp đồng lao động theo quy định, gồm 531 chỉ tiêu cho Sở Giáo dục và Đào tạo và 2.788 chỉ tiêu cho UBND các xã, phường.
Bên cạnh tuyển dụng và hợp đồng lao động, ngành cũng đẩy mạnh điều động, thuyên chuyển giáo viên. Sở đã tham mưu UBND thành phố ban hành Quyết định số 115/2026/QĐ-UBND ngày 21/7/2026 về quy chế điều động, thuyên chuyển nhà giáo trong các cơ sở giáo dục công lập; đồng thời ban hành hướng dẫn để triển khai thực hiện.
Về lâu dài, ngành tiếp tục chú trọng bồi dưỡng, nâng chuẩn trình độ đào tạo cho đội ngũ, giảm tải thủ tục hành chính, sổ sách để giáo viên tập trung vào chuyên môn, đổi mới phương pháp dạy học. Cùng với đó, tạo điều kiện để cán bộ quản lý, giáo viên tự học tập, nghiên cứu, nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ.
- Sau thời gian triển khai Chương trình giáo dục phổ thông 2018, ngành kỳ vọng tạo ra chuyển biến cốt lõi nào trong phương pháp dạy học, đặc biệt là việc ứng dụng chuyển đổi số và trí tuệ nhân tạo (AI)?
- Ngành giáo dục Đà Nẵng xác định năm học 2026 - 2027 cần tạo chuyển biến rõ hơn về chất lượng và hiệu quả dạy học. Các nhiệm vụ như tập huấn giáo viên, bảo đảm sách giáo khoa, giáo dục STEM, tăng cường ngoại ngữ, chuyển đổi số… tiếp tục được thực hiện, nhưng trọng tâm là những kết quả thực chất mà học sinh đạt được.
Trước hết, cần chuyển từ dạy kiến thức sang phát triển năng lực. Giáo viên không chỉ truyền đạt kiến thức mà phải tổ chức cho học sinh biết vận dụng vào thực tiễn, rèn tư duy độc lập, khả năng giải quyết vấn đề, sáng tạo, hợp tác và tự học.
Thứ hai, chuyển từ ứng dụng công nghệ sang hiệu quả công nghệ. Chuyển đổi số và AI phải thực sự hỗ trợ giáo viên nâng cao chất lượng giảng dạy, giúp học sinh học tập chủ động, cá nhân hóa việc học và nâng cao hiệu quả kiểm tra, đánh giá. Việc ứng dụng AI cũng phải đi cùng kỹ năng kiểm chứng thông tin, tư duy phản biện và sử dụng công nghệ có trách nhiệm.
Bên cạnh kiến thức nền tảng, học sinh cần được trang bị năng lực số, ngoại ngữ, tư duy sáng tạo, khả năng giải quyết vấn đề, thích ứng với thay đổi và năng lực tự học. Vì vậy, thước đo của đổi mới không phải là có bao nhiêu thiết bị, phần mềm hay mô hình mới, mà là học sinh tiến bộ như thế nào, có vận dụng được kiến thức và hình thành những năng lực cần thiết hay không.
Mỗi đổi mới về chương trình, phương pháp, công nghệ hay AI đều phải hướng đến mục tiêu giúp học sinh học tốt hơn, phát triển toàn diện hơn và sẵn sàng hơn cho tương lai.

Học sinh lớp 1 Trường Tiểu học Nguyễn Bá Phát (phường Liên Chiểu) vui tươi trong ngày xếp lớp, chuẩn bị bước vào năm học 2026-2027. Ảnh: HOÀI THƯƠNG
- Đà Nẵng đang chịu áp lực trường lớp ở đô thị, đồng thời cũng ưu tiên lớn cho vùng khó khăn. Ngành làm thế nào để bảo đảm công bằng giáo dục thực chất, thưa bà?
- Công bằng giáo dục không có nghĩa đầu tư giống nhau cho tất cả địa bàn, mà là phân bổ nguồn lực phù hợp với nhu cầu từng vùng.
Khu vực miền núi, biên giới và vùng đồng bào dân tộc thiểu số luôn được thành phố quan tâm ưu tiên cơ sở vật chất, thiết bị dạy học, đội ngũ giáo viên và các chính sách hỗ trợ học sinh. Trong khi đó, khu vực đô thị tập trung giải quyết áp lực trường, lớp và nâng cao chất lượng giáo dục.
Cụ thể, UBND thành phố đã tham mưu HĐND thành phố ban hành Nghị quyết số 62/2026/NQ-HĐND ngày 29/6/2026 của HĐND thành phố về hỗ trợ sữa tươi trong bữa ăn học đường cho trẻ mầm non, học sinh tiểu học tại các xã khu vực I, II, III vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi; thôn vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi trên địa bàn thành phố từ năm học 2026 - 2027 đến hết năm học 2029 - 2030; Nghị quyết số 99/2026/NQ-HĐND ngày 31/7/2026 của HĐND thành phố quy định chính sách cho học sinh, người lao động trường phổ thông nội trú tại các xã biên giới đất liền trên địa bàn thành phố; Nghị quyết số 100/2026/NQ-HĐND ngày 31/7/2026 của HĐND thành phố quy định nội dung và mức chi để chuẩn bị, tổ chức và tham dự các kỳ thi, cuộc thi, hội thi trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo; chính sách hỗ trợ tổ chức ôn tập cho học sinh của các trường phổ thông dân tộc nội trú, học sinh đồng bào dân tộc thiểu số tham dự kỳ thi tốt nghiệp trung học phổ thông trên địa bàn thành phố, với tổng kinh phí thực hiện dự kiến khoảng 41 tỷ đồng/năm.
Riêng đối với Nghị quyết số 99/2026/NQ-HĐND, ngoài chính sách theo quy định hiện hành, Nghị quyết bổ sung chính sách, nâng mức hỗ trợ thêm cho học sinh; hỗ trợ thêm tiền ăn đối với người lao động hợp đồng làm việc tại trường; hỗ trợ kinh phí mua sách giáo khoa trang bị thư viện, kinh phí phục vụ nấu ăn cho học sinh nội trú, bán trú, kinh phí chăm sóc học sinh lớp 1, 2, 3… với tổng ngân sách dự kiến khoảng 59,7 tỷ đồng/năm.
Từ những chính sách đó thể hiện sự quan tâm, chăm lo cho giáo dục, đặc biệt hướng đến trẻ em, học sinh và đội ngũ giáo viên, người lao động tại các vùng khó khăn, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi và xã biên giới của thành phố. Qua đó góp phần từng bước nâng cao chất lượng giáo dục tại các địa bàn khó khăn cũng như giảm độ “vênh” giữa các vùng miền.
Năm học 2026 - 2027, ngành sẽ theo dõi các chỉ số về quy mô trường lớp, tỷ lệ huy động học sinh, tỷ lệ bỏ học, điều kiện cơ sở vật chất, đội ngũ giáo viên và kết quả học tập giữa các khu vực. Dù ở đô thị hay miền núi, học sinh đều phải được tiếp cận những điều kiện giáo dục phù hợp, có chất lượng và có cơ hội phát triển năng lực.
Từ việc bảo đảm đủ điều kiện trường lớp, từng bước khắc phục thiếu giáo viên đến đổi mới phương pháp dạy học và ứng dụng công nghệ, ngành giáo dục Đà Nẵng hướng đến một mục tiêu xuyên suốt: lấy sự tiến bộ của học sinh làm thước đo cho chất lượng và hiệu quả của mọi giải pháp. Đây cũng là nền tảng để ngành bước vào năm học 2026 - 2027 với yêu cầu cao hơn về chất lượng, tính thực chất và công bằng trong giáo dục.

