Làng lư đồng An Hội - Hơn một thế kỷ 'đỏ lửa' giữa lòng TP. Hồ Chí Minh
Giữa lòng phố thị nhộn nhịp của phương Nam, có một làng nghề vẫn miệt mài 'đỏ lửa', lặng lẽ giữ gìn nét đẹp của một nghề truyền thống, đó là làng đúc lư đồng An Hội ở phường An Hội Tây, TP. Hồ Chí Minh.

Những nghệ nhân làng lư đồng An Hội vẫn miệt mài giữ “lửa nghề”. Ảnh: Bình Minh
Trước thời điểm sáp nhập địa giới hành chính và thực hiện mô hình chính quyền địa phương 2 cấp, làng đúc lư đồng An Hội thuộc phường 12, quận Gò Vấp, TP. Hồ Chí Minh. Nơi đây, nghề đúc lư đồng đã hình thành từ cuối thế kỷ 19, tồn tại và phát triển đến ngày hôm nay, trải qua bao nhiêu thăng trầm của lịch sử.
Điểm đặc biệt của lư đồng An Hội không chỉ nằm ở tuổi đời, mà còn ở sự tinh xảo trong từng công đoạn. Để hoàn thiện một sản phẩm, người thợ phải trải qua nhiều bước công phu: tạo mẫu, làm khuôn, nấu đồng, rót khuôn, làm nguội, chỉnh sửa và đánh bóng. Mỗi công đoạn đòi hỏi sự tỉ mỉ và kinh nghiệm dày dặn.
Ngọn lửa trong lò đúc vì thế không chỉ đơn thuần là nhiệt lượng, mà còn là biểu tượng của sự kiên trì và khát vọng giữ nghề. Nhiều nghệ nhân chia sẻ rằng nghề đúc đồng “chọn người” hơn là người chọn nghề. Công việc nặng nhọc, môi trường nóng bức, thu nhập không ổn định khiến lớp trẻ ngày nay ít mặn mà. Thế nhưng vẫn có những gia đình ba, bốn thế hệ gắn bó với lò đúc, xem đó là niềm tự hào và trách nhiệm.
Theo thông tin từ Phòng Văn hóa - Xã hội phường An Hội Tây, nghề đúc lư đồng ở làng An Hội luôn được địa phương giữ gìn, đánh giá cao với vai trò là một phần quan trọng trong không gian văn hóa của địa phương. Thời gian tới, địa phương sẽ tiếp tục quan tâm, phát triển nghề truyền thống đồng thời tăng cường quảng bá, giới thiệu hình ảnh làng nghề và phát triển thành sản phẩm du lịch đặc trưng.

Sản phẩm của làng lư đồng An Hội chủ yếu phục vụ nhu cầu thờ cúng và tâm linh. Ảnh: Bình Minh
Sản phẩm của làng lư đồng An Hội chủ yếu phục vụ nhu cầu thờ cúng và tâm linh, là một nét văn hóa bền vững của người Việt. Những bộ lư tam sự, ngũ sự, tượng Phật, tượng linh vật… được chế tác không chỉ để sử dụng trong gia đình mà còn cung cấp cho đình, chùa, miếu và các công trình tín ngưỡng ở nhiều tỉnh, thành. Mỗi hoa văn rồng phượng, mỗi đường chạm nổi đều thể hiện sự kết hợp giữa kỹ thuật và mỹ thuật truyền thống.
Cũng như nhiều làng nghề truyền thống trong cả nước, làng nghề An Hội cũng không tránh khỏi những giai đoạn thăng trầm. Có thời điểm, số hộ làm nghề giảm mạnh do cạnh tranh từ sản phẩm công nghiệp giá rẻ hoặc do đô thị hóa thu hẹp mặt bằng sản xuất. Tiếng búa thưa dần, nhiều lò lửa tắt nguội. Tuy nhiên, chính sự gắn bó với giá trị văn hóa truyền thống đã giúp làng nghề đứng vững. Những nghệ nhân tâm huyết như Hai Thắng, Ba Cồ, Sáu Bảnh, ..... với lòng yêu nghề và trách nhiệm với văn hóa truyền thống đã tìm cách cải tiến mẫu mã, nâng cao chất lượng, đồng thời kết hợp với các đơn vị phân phối để mở rộng thị trường, quyết tâm giữ gìn nghề truyền thống của cha ông.
Trao đổi với phóng viên Tạp chí điện tử Văn hóa và Phát triển, anh Nguyễn Tiến Huyên - người dân phường An Hội Tây, TP. Hồ Chí Minh chia sẻ: “Làng lư đồng An Hội không chỉ là một khu vực sản xuất đơn thuần, mà còn là một phần ký ức, một không gian văn hóa của người dân địa phương chúng tôi. Tôi hy vọng trong thời gian tới Sở Du lịch Thành phố sẽ có những chính sách để giới thiệu, kết nối các tour du lịch nhằm quảng bá nét đẹp làng nghề truyền thống này đến với du khách trong và ngoài nước”.

Để hoàn thiện một sản phẩm, người thợ đúc đồng phải trải qua nhiều công đoạn. Ảnh: Bình Minh
Hiện nay, dù không còn quy mô rầm rộ như trước, làng lư đồng An Hội vẫn giữ được “hồn nghề”. Một số cơ sở đã đầu tư thêm máy móc hỗ trợ ở khâu xử lý bề mặt, nhưng những công đoạn quan trọng nhất vẫn được thực hiện thủ công. Bàn tay người thợ, với cảm nhận tinh tế về kim loại và hoa văn, vẫn là yếu tố quyết định chất lượng sản phẩm.
Giữa không gian đô thị ngày càng hiện đại, sự tồn tại của làng lư đồng An Hội mang ý nghĩa như một “bảo tàng sống” của nghề thủ công truyền thống. Đó không chỉ là nơi sản xuất hàng hóa, mà còn là nơi lưu giữ ký ức cộng đồng, gìn giữ nét đẹp văn hóa tâm linh và tinh thần lao động cần mẫn của người Sài Gòn - Gia Định xưa.































