Làng Đồng Bồng - Đồng Ô
Núi non sừng sững, sông nước bao quanh, di tích trầm mặc, con người thuần hậu và những mỹ tục được gìn giữ... tất cả đã tạo nên vẻ đẹp của đất và người Đồng Bồng - Đồng Ô, hai làng cổ thuộc xã Tống Sơn.

Một góc làng Đồng Ô mang vẻ đẹp thanh bình.
Đồng Ô - Đồng Bồng (Động Bồng) trước đây thuộc xã Hà Tiến, huyện Hà Trung cũ, nay thuộc xã Tống Sơn. Hai làng nằm ở khu vực bán sơn địa, chuyển tiếp giữa đồng bằng chiêm trũng với miền núi thấp.
Núi sừng sững bao quanh tạo cho các làng thế đất “tựa lưng” vững chãi. Những ngọn núi nối tiếp với dáng hình khác lạ đã được con người đặt tên: Lò Ngói, Chũng Chĩnh, Đùn Đùn, Cửa Sổ, Con Phượng... Trong hệ thống núi non trên vùng đất cổ, núi Hang Dồn lớn và cao hơn cả. Đó là một dãy núi với các đỉnh nối tiếp nhau, tạo nên Thung Mây, Thung Chùa, Thung Hược, Hang Sập, Hang Vàng... “Đứng từ làng Động Bồng nhìn vào núi, chúng ta thấy Hang Dồn như một cặp voi phục. Đây xứng đáng được gọi là một danh sơn kỳ thú” (sách Lịch sử Đảng bộ xã Hà Tiến).
Bên trong núi lại có hang động, trong đó có những hang là nơi diễn ra các sự kiện lịch sử quan trọng. “Vào tháng 2/1942, tại hang chùa Động Bồng đã diễn ra hội nghị bí mật các chiến sĩ cách mạng của các tổng trong huyện để thành lập ra “Hội Thanh niên ái quốc Hà Trung” (sách Lịch sử Đảng bộ xã Hà Tiến).
Bên cạnh núi non, vùng đất cổ có sông Hoạt chảy qua, uốn lượn mềm mại như dải lụa, mang phù sa phì nhiêu bồi đắp cho những cánh đồng. Sông núi quyện hòa tạo cho Đồng Ô - Đồng Bồng vẻ đẹp sơn thủy hữu tình, đắm say lòng người.
Tuy nhiên, sông núi cũng khiến cho địa hình nơi đây không khỏi bị chia cắt. Cùng với đó, đồng chiêm ngập nước, nhiều đầm lầy cũng tạo nên không ít thách thức trong hành trình tranh đấu, chinh phục thiên nhiên, vượt qua thiên tai, nỗ lực mưu sinh, lập nên xóm làng của người Đồng Ô - Đồng Bồng.
Tại các hang núi đá vôi làng Đồng Ô - Đồng Bồng, người dân từng tìm thấy nhiều hiện vật bằng đá, đồng và gốm. Không chỉ có nhiều hiện vật cổ, nơi đây còn gần các di chỉ văn hóa như cồn Cổ Ngựa, Đa Bút... vì thế, các nhà nghiên cứu suy đoán, nơi đây từ hàng ngàn năm về trước đã có người Việt cổ đến cư ngụ. Sách Lịch sử Đảng bộ xã Hà Tiến viết: “... Trong thời đại dựng nước của các vua Hùng, vùng đất Hà Tiến từng có một bộ phận dân cư đến đây để tạo lập cuộc sống ổn định lâu dài. Điều đó được minh chứng bằng việc phát hiện khá nhiều hiện vật đồng, đá thuộc văn hóa Đông Sơn ở hang Động Bồng, hoặc ở những thân đất cao ven núi và ven sông Hoạt”.
Trải qua những biến thiên, việc lập làng ở Đồng Bồng được cho là có từ thời nhà Lý. Kề núi, bên sông, Động Bồng (Đồng Bồng) cũng chính là tên của làng. Theo lưu truyền dân gian, làng Đồng Bồng được lập dựng dưới triều vua Lý Thái Tông. Ông Cao Sơn người phương Bắc xuôi xuống phía Nam lánh nạn, đến vùng đất này thấy địa thế tốt tươi đã dừng lại để khai khẩn đất đai, ổn định cuộc sống, tụ cư lâu dài. Đến thời Trần, nhà Lê, nhiều vị vua, danh sĩ khi qua đất Đồng Bồng đã “tức cảnh làm thơ” khắc trên vách núi Chung Sơn. Đến cuối thế kỷ XIX, vùng đất cổ lại trở thành một trong những “hậu phương” của phong trào Cần Vương kháng Pháp.
Đồng Bồng là một trong những làng hình thành sớm nhất trong vùng. Những thế hệ người dân Đồng Bồng bằng đôi bàn tay, khối óc, không quản nhọc nhằn đã tạo nên các xứ đồng cổ xưa, như đồng Trước Trõi, bái Vối, đồng Đong, bãi Lược; Nghiên Bút; Bò Hòn...
Cũng như Đồng Bồng, thuở xưa Đồng Ô là một vùng chiêm trũng có núi non bao quanh. Những người đầu tiên đến đây lập làng, đã chọn khu cồn đất cao hoang rậm ở giữa, gọi là bái Ổ để tụ cư. Cũng bởi vậy, bên cạnh tên gọi Đồng Ô, làng còn có tên Bái Ổ - như một sự nhắc nhớ về thuở xa xưa lập làng. Tương tự Đồng Bồng, làng Đồng Ô cũng có các xứ đồng cổ, mà tên gọi đến nay còn lưu truyền, như đồng Nâm Một, Nâm Hai, Mí Dưới, Mí Trên, Bồ Bồ, Chóp Nón...

Di tích kiến trúc nghệ thuật đình Đồng Bồng là một trong những ngôi đình lớn trên địa bàn tỉnh.
Đặc biệt, lưu truyền dân gian trong vùng kể rằng, thời kỳ Nam- Bắc triều diễn ra cuộc giao tranh giữa quân Lê - Trịnh với nhà Mạc, vùng đất Đồng Ô từng là địa bàn đóng quân của một đội quân nhà Lê - Trịnh do vị tướng họ Trần chỉ huy.
Trải qua năm tháng, cùng nỗ lực mưu sinh, xây dựng cuộc sống, người dân Đồng Ô - Đồng Bồng không ngừng sáng tạo, dựng lên những công trình kiến trúc, gắn liền với đời sống văn hóa tín ngưỡng, tinh thần phong phú, như: đình Đồng Bồng, chùa Đồng Ô...
Nhắc đến làng Đồng Bồng, khắp xa gần nhớ đến ngôi đình làng to lớn bậc nhất trong vùng, xứng danh “đình huyện Tống”. Đình được dựng dưới thời vua Gia Long, mang đậm dấu ấn kiến trúc thời Nguyễn với 5 gian, 2 chái, có hệ thống cột lớn chống đỡ. Với quy mô rộng lớn, đình Đồng Bồng được xem là một trong những đình làng lớn nổi tiếng xứ Thanh. Tại đây, người dân tôn thờ Thành hoàng làng Tô Hiến Thành và Tống Quốc sư.
Tại đình Đồng Bồng, mỹ tục đốt Đình Liệu vào đêm 30 tết được người dân bảo tồn, gìn giữ đến hôm nay. Ông Bùi Văn Thọ, Bí thư chi bộ thôn Đồng Bồng, cho biết: “Đời nối đời, người dân Đồng Bồng luôn tin rằng, việc đốt lửa trong đêm 30 tại đình làng, ngọn lửa cháy sáng sẽ xua đi những điều xui rủi, ngọn lửa ấm áp thắp lên hy vọng và mong cầu tốt đẹp. Việc duy trì mỹ tục đốt Đình Liệu nhằm tưởng nhớ tổ tiên, tiền nhân, đồng thời kết nối tinh thần đoàn kết của người dân trong làng. Bên cạnh mỹ tục đốt Đình Liệu vào đêm 30 tết, lễ hội đình làng Đồng Bồng vào ngày 20/6 âm lịch diễn ra với quy mô lớn, thu hút đông đảo người dân địa phương và con em xa quê về dự”.
Bên cạnh núi sông hiền hòa, các công trình kiến trúc gắn với đời sống tín ngưỡng, về thăm Đồng Ô - Đồng Bồng du khách ấn tượng với những dấu ấn của làng quê Việt truyền thống, là cây đa, bến nước, giếng làng... Giữa nhịp sống hiện đại, những “nét vẽ” tưởng chừng như mộc mạc nhưng lại tạo nên điểm nhấn cho “bức tranh” làng quê thanh bình, gợi nhắc để mỗi người đi xa không quên quê hương, nguồn cội.
* Bài viết có tham khảo, sử dụng nội dung trong sách Lịch sử Đảng bộ xã Hà Tiến, NXB Thanh Hóa, 2024 và một số tài liệu di tích lưu giữ tại địa phương.
