Làm sạch mã số thuế, thông thoáng môi trường kinh doanh
Làm sạch mã số thuế là việc cần thiết để nâng cao hiệu quả quản lý thuế, chuẩn hóa dữ liệu và tạo môi trường kinh doanh minh bạch. Đây cũng là một bước quan trọng trong quá trình chuyển sang quản lý dựa trên dữ liệu. Tuy nhiên, thực tế triển khai đang đặt ra một vấn đề cần được nhìn nhận thấu đáo, đó là phân loại và xử lý những doanh nghiệp đã rời khỏi thị trường nhiều năm.
Thực tế, có doanh nghiệp đã “đóng cửa” hàng chục năm, không còn doanh thu, không xuất hóa đơn, không phát sinh hoạt động kinh doanh nhưng cũng chưa làm thủ tục đóng mã số thuế. Đến nay, khi phải hoàn tất thủ tục pháp lý, chủ doanh nghiệp, ngoài việc hoàn thiện hồ sơ, còn phát sinh các khoản tiền phạt, lệ phí môn bài và tiền chậm nộp trong những năm trước. Về nguyên tắc, doanh nghiệp chưa hoàn tất thủ tục chấm dứt hiệu lực mã số thuế, soanh nghiệp vẫn còn nghĩa vụ với cơ quan quản lý.
Theo định hướng của ngành Thuế, người nộp thuế được phân loại theo mức độ rủi ro; trong đó ưu tiên xử lý các trường hợp không phát sinh doanh thu, không phát sinh hóa đơn và những hồ sơ tồn đọng kéo dài. Cách tiếp cận này phù hợp với yêu cầu quản lý thuế hiện đại dựa trên rủi ro thay vì áp dụng một cách thức xử lý đồng nhất cho mọi trường hợp.
Hiện có khoảng 617.000 mã số thuế của doanh nghiệp, hộ kinh doanh không còn hoạt động hoặc có thông tin chưa được cập nhật đầy đủ. Nên câu chuyện trên không chỉ là vấn đề của một vài doanh nghiệp. Nó đặt ra vấn đề về thiết kế chính sách và hiệu quả quản lý. Một doanh nghiệp đã rời thị trường từ lâu, không còn hoạt động sản xuất, kinh doanh, phải xử lý một khoản nghĩa vụ tích tụ qua nhiều năm có thể trở thành rào cản khiến doanh nghiệp tiếp tục trì hoãn việc hoàn tất thủ tục.
Điều cần thiết lúc này là một cơ chế phân loại rõ ràng hơn giữa nghĩa vụ thuế thực chất và nghĩa vụ phát sinh từ việc chậm hoàn tất thủ tục. Đối với doanh nghiệp có khoản thuế thực tế còn nợ, nghĩa vụ đó phải được thu đầy đủ. Đối với doanh nghiệp có hành vi gian lận, trốn thuế, mua bán hóa đơn hoặc cố tình vi phạm phải xử lý nghiêm.
Nhưng với doanh nghiệp chứng minh được đã thực sự ngừng hoạt động, không có doanh thu, không phát sinh hóa đơn, không có nghĩa vụ thuế thực tế và không có dấu hiệu gian lận, cần nghiên cứu cơ chế xử lý phù hợp hơn đối với các khoản phạt và nghĩa vụ mang tính thủ tục kéo dài.
Có thể nghiên cứu cơ chế miễn, giảm hoặc giới hạn thời gian tính một số khoản tiền phạt, tiền chậm nộp và nghĩa vụ phát sinh trong giai đoạn doanh nghiệp đã thực tế ngừng hoạt động, trên cơ sở xác minh bằng dữ liệu. Điều kiện áp dụng phải chặt chẽ, minh bạch và thống nhất.
Bên cạnh đó, hệ thống hóa đơn điện tử, dữ liệu kê khai thuế, đăng ký doanh nghiệp, lao động, bảo hiểm xã hội và các nguồn dữ liệu liên quan có thể giúp cơ quan quản lý xác định tương đối rõ doanh nghiệp còn hoạt động hay đã thực sự rời thị trường. Khi doanh nghiệp không phát sinh hóa đơn, không có doanh thu, không có lao động và không có giao dịch trong một thời gian dài, hệ thống có thể cảnh báo, hướng dẫn chủ doanh nghiệp thực hiện tạm ngừng hoặc chấm dứt hoạt động ngay.
Xa hơn, cần tiến tới liên thông giữa cơ quan đăng ký kinh doanh và cơ quan thuế. Khi một doanh nghiệp đã hoàn tất thủ tục chấm dứt hoạt động và dữ liệu liên ngành xác nhận không còn hoạt động, việc chấm dứt hiệu lực mã số thuế cần được thực hiện nhanh chóng, hạn chế tình trạng doanh nghiệp phải thực hiện nhiều thủ tục lặp lại.
Cải cách thủ tục hành chính suy cho cùng là làm cho trách nhiệm đó rõ ràng, dễ thực hiện và được xử lý đúng thời điểm. Một doanh nghiệp đã rời thị trường cũng cần có một “lối ra” pháp lý rõ ràng để kết thúc nghĩa vụ của mình. Làm sạch mã số thuế, vì thế, cần đi cùng với làm sạch những bất cập trong quy trình quản lý. Doanh nghiệp vi phạm phải bị xử lý nghiêm; doanh nghiệp đã thực sự rời thị trường cần được tạo điều kiện để hoàn tất thủ tục một cách minh bạch, hợp lý và đúng pháp luật. Đó mới là cách để chiến dịch của ngành Thuế đạt được mục tiêu:
Làm sạch dữ liệu, làm thông thoáng môi trường kinh doanh.
