Lá chắn cho hàng Việt
Xây dựng lá chắn cho xuất khẩu không còn là xử lý từng vụ kiện riêng lẻ. Điều cần thiết hơn là hình thành năng lực phòng vệ trong doanh nghiệp từ chất lượng quản trị đến minh bạch chuỗi sản xuất.
Xuất khẩu càng tăng trưởng, nguy cơ đối mặt với các vụ điều tra phòng vệ thương mại càng hiện hữu. Khi các nền kinh tế liên tục dựng lên hàng rào mới để bảo vệ sản xuất trong nước, việc xây dựng lá chắn đủ mạnh cho hàng Việt không còn là giải pháp tình thế mà trở thành yêu cầu chiến lược để giữ vững đà tăng trưởng xuất khẩu dài hạn.

Việt Nam được loại trừ khỏi biện pháp tự vệ thép của Nam Phi. Ảnh minh họa
Từ một nền kinh tế chủ yếu xuất khẩu nguyên liệu thô, Việt Nam đã vươn lên thành một trong những quốc gia có độ mở thương mại thuộc nhóm cao nhất thế giới. Thành quả đó mang lại cơ hội lớn nhưng đồng thời cũng đặt doanh nghiệp trước thách thức chưa từng có.
Thực tế cho thấy, điều tra chống bán phá giá, chống trợ cấp hay chống lẩn tránh thuế xuất hiện ngày càng dày hơn không đơn thuần phản ánh xu hướng bảo hộ thương mại gia tăng. Ở một góc nhìn khác, đây là minh chứng cho thấy hàng hóa Việt Nam đã đủ sức cạnh tranh tạo sức ép lên ngành sản xuất của nước nhập khẩu. Hơn nữa, kim ngạch xuất khẩu liên tục tăng, việc trở thành đối tượng của các cuộc điều tra thương mại là điều không thể tránh khỏi.
Theo ông Lương Hoàng Thái, Cục trưởng Cục Phòng vệ thương mại (Bộ Công Thương), xu hướng các nước sử dụng công cụ phòng vệ thương mại sẽ tiếp tục gia tăng về số lượng lẫn mức độ phức tạp. Bên cạnh biện pháp truyền thống, nhiều quốc gia đã mở rộng điều tra sang chống lẩn tránh thuế, trợ cấp xuyên quốc gia, gian lận xuất xứ và vấn đề liên quan đến chuỗi cung ứng. Điều đó yêu cầu doanh nghiệp phải thay đổi tư duy, coi phòng vệ thương mại là nội dung trong chiến lược phát triển, không phải giải pháp ứng phó khi vụ việc phát sinh.
Thời gian qua, nhiều doanh nghiệp Việt Nam thua ngay từ vòng hồ sơ không phải vì chất lượng sản phẩm kém hay giá bán thiếu cạnh tranh mà bởi hệ thống quản trị chưa đáp ứng yêu cầu. Hồ sơ kế toán thiếu đồng bộ, dữ liệu sản xuất chưa được số hóa, chứng từ nguyên liệu lưu trữ rời rạc, quy trình truy xuất nguồn gốc chưa hoàn chỉnh… Những điểm yếu tưởng như rất nhỏ lại trở thành bất lợi lớn khi cơ quan điều tra nước ngoài yêu cầu chứng minh quá trình hình thành giá trị của sản phẩm.
Ông Đỗ Ngọc Hưng, Tham tán Thương mại Việt Nam tại Hoa Kỳ cho hay: Chính sách thương mại của Hoa Kỳ đang chuyển mạnh sang bảo vệ chuỗi cung ứng và sản xuất nội địa thông qua việc kết hợp nhiều công cụ khác nhau. Các biện pháp phòng vệ thương mại ngày càng gắn với yêu cầu về lao động, môi trường, an ninh kinh tế và xuất xứ hàng hóa. Điều đó đồng nghĩa doanh nghiệp Việt Nam muốn giữ vững thị phần tại thị trường này không chỉ cần sản phẩm chất lượng mà còn phải chuẩn bị đầy đủ dữ liệu, hồ sơ và khả năng giải trình trước cơ quan điều tra.
Trong khi đó, tại thị trường châu Âu, ông Trần Ngọc Quân, Tham tán Thương mại Việt Nam tại Bỉ và EU chia sẻ: Sau nhiều năm thực thi Hiệp định thương mại Việt Nam- Eu (EVFTA), lợi thế về thuế quan chỉ thực sự phát huy khi doanh nghiệp đáp ứng đầy đủ quy định mới của EU về phát triển bền vững, chống mất rừng, kinh tế tuần hoàn hay Cơ chế điều chỉnh carbon qua biên giới. Nếu không chuẩn bị từ sớm, những quy định này sẽ trở thành rào cản lớn nhất với hàng hóa Việt Nam.
Do đó, xây dựng lá chắn cho xuất khẩu không còn là việc xử lý từng vụ kiện riêng lẻ. Điều cần thiết hơn là hình thành năng lực phòng vệ trong doanh nghiệp từ chất lượng quản trị đến sự minh bạch của chuỗi sản xuất. Tuy nhiên, để làm được điều này phải được tạo dựng từ sự liên kết giữa Nhà nước, hệ thống thương vụ, hiệp hội ngành hàng và cộng đồng doanh nghiệp. Bởi, sự chủ động từ các mắt xích hay chia sẻ kịp thời cũng như phối hợp đồng bộ, khả năng ứng phó sẽ khác tăng lên.

Úc quyết định không áp thuế chống bán phá giá với thép cốt bê tông của Hòa Phát.
Ông Ngô Sỹ Hoài, Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Việt Nam cho biết: Kinh nghiệm từ ngành gỗ cho thấy doanh nghiệp không thể tự mình chống đỡ trước vụ kiện có quy mô lớn. Quan trọng phải hình thành cơ chế phối hợp trong toàn ngành như chia sẻ thông tin thị trường, thống nhất dữ liệu đến việc cùng xây dựng tiếng nói chung khi làm việc với cơ quan điều tra nước ngoài. Nếu mỗi doanh nghiệp chỉ bảo vệ lợi ích riêng, kết quả cuối cùng có thể cả ngành cùng chịu thiệt. Ngược lại, khi hiệp hội đóng vai trò kết nối, doanh nghiệp sẽ có thêm nguồn lực, kinh nghiệm và cơ sở dữ liệu để bảo vệ quyền lợi chính đáng.
Ở góc độ ngành thép, ông Đinh Quốc Thái, Phó Tổng Thư ký Hiệp hội Thép Việt Nam nhấn mạnh: Phòng vệ thương mại không còn là câu chuyện phát sinh sau sản xuất mà phải trở thành một phần trong chiến lược phát triển ngành. Đầu tư công nghệ, nâng cao tỷ lệ nội địa hóa, kiểm soát chặt nguồn nguyên liệu, minh bạch hóa chuỗi cung ứng và đáp ứng tiêu chuẩn xanh sẽ giúp doanh nghiệp giảm nguy cơ bị điều tra và nâng cao sức cạnh tranh trong dài hạn.
Tuy nhiên, giải pháp căn cơ nhất vẫn nằm ở việc thay đổi tư duy. Theo ông Lương Hoàng Thái, phòng vệ thương mại không bắt đầu khi doanh nghiệp nhận được thông báo điều tra mà phải chuẩn bị ngay từ khâu xây dựng chiến lược sản xuất. Từ lựa chọn nguyên liệu, quản trị kế toán, lưu trữ chứng từ đến truy xuất nguồn gốc đều cần chuẩn hóa và minh bạch. Đây chính là nền tảng giúp doanh nghiệp chủ động phòng ngừa rủi ro, đồng thời giảm đáng kể chi phí và áp lực khi đối mặt với vụ việc điều tra.
Cùng với việc hoàn thiện cơ chế cảnh báo sớm, Cục Phòng vệ thương mại sẽ tăng cường kết nối với Thương vụ Việt Nam ở nước ngoài, hiệp hội ngành hàng và địa phương để đồng hành với doanh nghiệp từ giai đoạn đầu của vụ việc. Song song đó là đẩy mạnh đào tạo, nâng cao năng lực tự ứng phó, giúp doanh nghiệp chủ động hơn trước rủi ro.
Xây dựng lá chắn cho hàng Việt không chỉ là câu chuyện ứng phó với vụ điều tra mà là hành trình củng cố nội lực của cả nền kinh tế. Nếu doanh nghiệp chủ động nâng cao năng lực quản trị, Nhà nước hoàn thiện cơ chế hỗ trợ và hiệp hội phát huy vai trò kết nối sẽ trở thành điểm tựa để hàng Việt tự tin vươn xa và phát triển bền vững trên thị trường quốc tế.






























