Ký ức bến phà Nông Tiến
Sáng sớm, màn sương mỏng manh vẫn còn giăng mắc, quấn quýt trên những tán cây cổ thụ dọc bờ sông Lô. Thong dong đi dạo, ngắm nhìn nhịp sống hiện đại của xứ Tuyên hôm nay, với những người gốc Tuyên Quang - đặc biệt là quanh khu vực phường Minh Xuân, ký ức về bến phà Nông Tiến luôn là một bầu trời hoài niệm. Bầu trời ấy không nằm trong sách vở, mà hiện lên vô cùng sống động qua những lời kể rầm rì của lớp người xưa cũ.
Ký ức
Lần theo những vệt ký ức ven sông, tôi tìm gặp ông Nguyễn Ngọc Tuyển, tổ dân phố 6, phường Nông Tiến. Năm nay ông bước sang tuổi 70, dáng người nhỏ nhắn, khuôn mặt quắc thước và đặc biệt là đôi mắt kiên định vẫn rực sáng mỗi khi nhắc về dĩ vãng. Lớp trai tráng ở thị xã Tuyên Quang xưa hay trân trọng gọi ông bằng cái tên thân thương là “Tuyển đen”. Ông Tuyển thuộc lớp người hiểu tường tận về tính nết con nước dòng Lô, và cũng là một pho sử sống ôm trọn nhiều ký ức về bến phà Nông Tiến.
Quay ngược cỗ xe thời gian, Tuyên Quang trong tâm thức của những thế hệ trước không chỉ lãng mạn với bến nước Bình Ca dạt dào tiếng hát như nhà thơ Tố Hữu từng viết. Khi ấy, bến phà Nông Tiến đóng vai trò cốt lõi như một “mạch máu” giao thông mang tính sinh tử của cả vùng. Khởi thủy, nơi đây chỉ là một bến đất, bến đá đơn sơ, trơ trọi.

Cầu phao bắc qua bến phà Nông Tiến cuối năm 1986.
Những con đò ngang bé nhỏ, chòng chành rẽ sóng đưa khách sang sông, đánh dấu điểm khởi đầu của con đường liên xã đi vào vùng ATK Yên Sơn. Thế rồi, nhịp độ phát triển kinh tế của tỉnh ngày một tăng nhanh, nhu cầu giao thương cuồn cuộn đòi hỏi một phương tiện lớn hơn, vững chãi và an toàn hơn. Đứng trước đòi hỏi thực tế, Ty Giao thông nay là Sở Xây dựng đã quyết định nâng cấp bến đò thành bến phà.
Ông Tuyển bảo, gọi là phà cho oai, nhưng những ngày đầu, đó thực chất chỉ là những con thuyền sắt nhỏ bé chở được vài tấn hàng, vận hành hoàn toàn do sức người chèo lái. Dưới cái nắng chói chang đổ lửa hay những ngày gió bấc lạnh buốt thấu xương, con phà cứ thế lầm lũi băng qua sông bằng sức vóc bền bỉ và những giọt mồ hôi mặn chát của con người. Mãi về sau này, bến nước mới được nâng cấp lên thành phà sắt đồ sộ, chở được vài chiếc ô tô cùng hàng trăm người. Những chuyến phà lịch sử ấy được lai dắt bởi những chiếc ca nô kéo đẩy, ngày ngày nhả khói đen kịt cả một khúc sông êm ả.
Đứng trầm ngâm bên dòng Lô trôi lững lờ, ông Bùi Đình Minh, tổ dân phố 3, phường Nông Tiến nguyên là công nhân nhà máy Xi măng Tuyên Quang cũng thường xuyên đi phà để tiếp thị sản phẩm vẫn nhớ như in cái không khí tất bật, đặc quánh của bến phà thuở ấy. Ông kể, khi phà máy được đưa vào vận hành, mọi việc được cải tiến, giải phóng sức lao động nhưng lại phức tạp hơn rất nhiều. Mỗi chuyến phà qua sông là một sự phối hợp nhịp nhàng, chính xác đến từng giây.
Mỗi khi khách lên phà ổn định, một người sẽ gõ hồi chuông báo hiệu để phà bắt đầu chạy. Tiếng chuông vồ dõng dạc vang vọng cả bến sông sương: gõ bốn tiếng là lệnh tăng tốc, ba tiếng thì lùi, và một tiếng dứt khoát là phà dừng hẳn. Mọi hoạt động trên bến sông luôn phải tuân thủ nghiêm ngặt theo khẩu hiệu: “Xuống phà xe trước người sau/Lên phà người trước xe sau an toàn”.
Chống chọi khi lũ về
Nhưng cuộc sống bám trụ ven dòng Lô chưa bao giờ êm đềm trọn vẹn, đặc biệt là mỗi độ mùa mưa lũ ập về. Để giảm tải sự vất vả nhọc nhằn và tăng hiệu quả, người ta từng sáng tạo cải tiến bằng phương pháp xây những trụ kiên cố ở hai bên bờ sông, rồi căng dây cáp qua sông cố định chặt vào trụ. Họ khéo léo dùng dây cáp nối với hai đầu của phà có gắn ròng rọc, nhằm lợi dụng chính sức nước chảy tự nhiên đẩy phà đi mà không cần đến động cơ ca nô. Dùng cách này, về mùa khô nước chảy êm đềm thì mọi sự vận hành diễn ra trơn tru, đều đặn như ý muốn.
Song, khi mùa mưa bão đổ về, sông Lô vốn hiền hòa bỗng chốc hóa thành một dòng chảy hung dữ, cuồng nộ. Nước cuồn cuộn xiết xỉu, cuốn theo cả những cây gỗ to, những bè tre, bè nứa lao sầm sập vào thân phà uỳnh uỳnh, rung lắc đến mức tưởng như vỡ tung cả phà. Đã có những đêm lũ lớn hung hãn làm đứt phăng dây cáp, đẩy phà trôi dạt vô định xuống tận soi Lâm, tức là soi Tình Húc. Những lần như thế, người ta phải huy động ca nô chạy xé nước, kéo ngược dòng trần ai cả ngày trời mới đưa phà lên được bến.

Khu vực bến phà Nông Tiến hiện nay là địa điểm tổ chức các hoạt động thể thao truyền thống dịp đầu xuân.
Thời gian trôi, khi nền kinh tế mở cửa, lưu lượng người và xe đi lại ngày càng đông, gây ra cảnh ùn tắc triền miên ở hai đầu bến phà. Những chiếc xe có trọng tải lớn có khi phải mòn mỏi chờ đợi mới đến lượt được qua sông. Để giải bài toán giảm tải bức thiết, phương án kết hợp vừa chạy phà chở ô tô, vừa bắc cầu phao cho người đi đã được đưa ra.
Cuối năm 1986, cầu phao được làm bằng những thùng sắt to lớn, nối kết chặt chẽ với nhau bởi những dây cáp mềm và thanh gỗ to vững chắc. Bên trên, người ta rải những đoạn tre đặt ngang, và lớp trên cùng được trải những tấm tôn dày 3 ly để người và xe máy qua lại an toàn. Dùng cầu phao vừa tiện lợi vì chấm dứt cảnh đợi chờ, nhưng lại mang đến sự bất tiện vô cùng vì vào mùa nước lũ, lực lượng vận hành phải lập tức tháo cầu khẩn cấp, nếu không nước lũ sẽ cuốn trôi mất. Theo giờ nhất định, người ta phải tháo đoạn giữa cầu để thuyền bè xuôi ngược, gây nên sự ách tắc giao thông đường thủy cục bộ. Cuối cùng, phương án cầu phao đành bị bãi bỏ, bến nước quay về phương pháp dùng hai phà lớn có ca nô lai dắt, chạy đổi chiều nhau.
Dẫu vậy, một bến phà dù cố gắng gồng gánh đến đâu, cũng không thể kham mãi nhịp độ phát triển của xã hội. Năm 1995, tỉnh Tuyên Quang đã quyết định khởi công xây dựng cầu Nông Tiến to đẹp, mang đậm vóc dáng hiện đại. Các nhà khoa học, lực lượng thiết kế đã chốt phương án đặt cầu ở phía Nam chân núi Thổ Sơn. Nhát cuốc khởi công xây dựng cầu Nông Tiến cũng chính thức đặt dấu chấm hết cho sứ mệnh lịch sử vinh quang của bến phà Nông Tiến tại trung tâm thị xã. Các phương tiện của bến phà sau đó được chia làm hai, di chuyển lên thế chân cho bến đò Tân Hà và bến đò Tứ Quận.
Hôm nay, Tuyên Quang đã kiêu hãnh vươn mình với những biểu tượng kiến trúc mới to đẹp như cầu Tình Húc với hàng trụ cột thiết kế tựa như những ngọn đuốc rực sáng, cầu An Hòa bắc ngang sông Lô. Bến phà Nông Tiến nhộn nhịp ngày nào giờ chỉ còn là một khoảng trống tĩnh lặng ven sông. Nhưng trong tâm thức của những con người xứ Tuyên, hình ảnh con phà kiên cường rẽ sóng, tiếng chuông leng keng báo hiệu cập bờ, và những giọt mồ hôi mặn chát của những người lái phà năm xưa vẫn mãi là một phần lịch sử hào hùng, neo đậu vững chắc giữa đôi bờ dòng Lô.































