Kỳ cuối: Đặt năng lực vào đúng vị trí

Không có lựa chọn con đường học tập nào bảo đảm một tương lai tươi sáng nếu người học thiếu năng lực và ý chí phát triển.

Đại học, học nghề hay tự học đều có thể mở ra một hướng đi, nhưng để biến lựa chọn ấy thành nghề nghiệp bền vững, người học phải không ngừng nâng cao năng lực và thích ứng với yêu cầu của công việc.

Công ty TNHH Gang thép Hưng Nghiệp Formosa Hà Tĩnh: Năng lực thực tế mở đường thăng tiến

Bằng cấp và năng lực làm việc là căn cứ quan trọng để doanh nghiệp tham khảo bố trí công việc và áp dụng mức tiền lương phù hợp. Đối với Formosa, nhu cầu tuyển dụng hiện nay của Công ty chủ yếu tập trung vào nguồn lao động tốt nghiệp hệ Cao đẳng/Trung cấp và chuyên ngành kỹ thuật.

Tuy nhiên, trong quá trình tuyển dụng, việc đánh giá ứng viên không chỉ dựa trên bằng cấp mà còn xem xét toàn diện năng lực thực tế, bao gồm khả năng vận dụng kiến thức chuyên môn vào công việc, kỹ năng thực hành, khả năng học hỏi và xử lý vấn đề, ý thức chấp hành an toàn lao động, tính kỷ luật và tinh thần trách nhiệm, để đảm bảo rằng năng lực chuyên môn của nhân viên phù hợp với thực tế công việc.

Tại Formosa Hà Tĩnh, có rất nhiều lao động tốt nghiệp Cao đẳng/Trung cấp nghề, ban đầu được tuyển dụng vào các vị trí kỹ thuật, vận hành thao tác trực tiếp tại hiện trường. Tuy nhiên, sau một thời gian tích lũy kinh nghiệm, nắm vững chuyên môn, chủ động học hỏi, một số nhân viên từ vị trí nhân viên vận hành, bảo dưỡng... đã được thăng chức lên các vị trí chức vụ cao hơn như: cán bộ kỹ thuật, trực ban chủ quản, chuyên viên kỹ thuật, phó xưởng trưởng,...

Điển hình như đồng nghiệp B.V.T. (thuộc Nhà máy điên-Bộ phận Năng lượng), tốt nghiệp Cao đẳng Nghề, chuyên ngành điện tử, sau khi vào công ty đảm nhận công việc kỹ thuật hiện trường, nhưng hiện đã đảm nhiệm vị trí phó xưởng trưởng. Điều này cho thấy, năng lực thực tế, tinh thần học hỏi và hiệu quả công việc là những yếu tố quan trọng giúp người lao động phát triển nghề nghiệp, không phụ thuộc hoàn toàn vào bằng cấp.

Doanh nghiệp cần lao động “có chuyên môn và có trách nhiệm”. Bất kể tốt nghiệp đại học hay học nghề, người lao động cần có năng lực chuyên môn, kỹ năng thực hành, khả năng học hỏi, giải quyết vấn đề, chịu khó, có tính kỷ luật cao. Trong môi trường sản xuất, chúng tôi đánh giá cao những người biết vận dụng kiến thức vào thực tế, chủ động học hỏi và có tinh thần trách nhiệm và chịu khó trong công việc.

Ông Nguyễn Văn Tú, Giám đốc Công ty TNHH Sản xuất và Thương mại Yến sào Xứ Thanh: Không học đại học, phải tự học để bù đắp khoảng trống

Tôi không có điều kiện để học tiếp sau THCS. Gia đình khó khăn nên học hết lớp 9, tôi vào miền Nam làm công nhân để kiếm sống. Sau này, khi biết đến nghề nuôi chim yến, tôi nhận thấy đây là một cơ hội phù hợp với điều kiện và khả năng của mình. Tôi không có bằng cấp chuyên môn về nghề này nên xác định ngay từ đầu là phải tự học.

Tôi đọc sách báo, tìm tài liệu, đi đến các mô hình nuôi yến thành công để học hỏi. Tôi nghĩ, nếu mình không đi được con đường đại học thì phải tìm một con đường khác, nhưng con đường đó không có nghĩa là dễ hơn. Nó chỉ khác nhau ở cách mình học và cách mình chịu trách nhiệm với lựa chọn của mình.

Khi còn đi học, có thầy cô hướng dẫn, có chương trình, có người chỉ cho mình phải học gì. Còn khi ra đời, nếu chọn một nghề mới thì mình phải tự tìm hiểu, tự quyết định và tự chịu hậu quả nếu quyết định sai. Tôi từng trải qua thất bại rất lớn. Đàn chim đầu tiên gọi về được khoảng 3.000 con, cả gia đình rất vui.

Nhưng một đợt rét đậm, chim chết trắng sàn. Lúc đó, tôi thực sự hiểu rằng khởi nghiệp không phải câu chuyện chỉ cần có ý tưởng là thành công. Có những cái giá phải trả bằng tiền bạc, thời gian, công sức và cả những lúc rất áp lực. Nhưng thất bại cũng buộc tôi phải học nghiêm túc hơn. Nếu lúc đó tôi bỏ cuộc thì chắc chắn không có doanh nghiệp Yến sào xứ Thanh như ngày hôm nay.

Những lúc tôi gặp những vấn đề mà kiến thức của mình còn thiếu, tôi từng nghĩ nếu được học hành bài bản hơn thì có lẽ mình sẽ thuận lợi hơn. Bởi vậy, nếu một bạn trẻ có điều kiện, có năng lực và xác định được ngành nghề mình muốn theo đuổi thì đại học là một lựa chọn rất tốt. Kiến thức được đào tạo bài bản sẽ giúp các bạn có nền tảng và rút ngắn được rất nhiều thời gian.

Tuy nhiên, tôi nghĩ các bạn đừng coi đại học là con đường duy nhất, nhưng cũng đừng nghĩ không học đại học nghĩa là có thể đi đường tắt để thành công. Nếu phù hợp với đại học, hãy học đại học và học thật nghiêm túc. Đó là một con đường tốt để các bạn có kiến thức, kỹ năng và nền tảng nghề nghiệp. Còn nếu lựa chọn một con đường khác, chẳng hạn học nghề, đi làm, khởi nghiệp hay theo đuổi một nghề truyền thống, thì cũng phải nghiêm túc không kém.

Phải xác định mình muốn làm gì, tìm hiểu thật kỹ, học nghề cho đến nơi đến chốn và chấp nhận những khó khăn có thể xảy ra. Tôi chỉ học hết lớp 9, nhưng chưa bao giờ nghĩ rằng sau khi rời trường thì mình không cần học nữa. Ngược lại, càng làm tôi càng thấy mình phải học nhiều hơn nữa.

GS.TSKH Bùi Văn Ga, nguyên Thứ trưởng Bộ GD&ĐT: Giáo dục phổ thông - nền móng cho nhân lực chất lượng cao

Mỗi mùa tuyển sinh đến, câu hỏi "vào đại học hay không" lại trở thành nỗi trăn trở của hàng triệu gia đình Việt Nam. Nhưng trong một thế giới mà trí tuệ nhân tạo đang từng ngày định hình lại bản đồ việc làm, đã đến lúc chúng ta cần nhìn nhận lại vấn đề này một cách thấu đáo hơn: đại học vẫn là con đường quan trọng, song không phải là con đường duy nhất để lập thân, lập nghiệp.

Điều cốt yếu nằm ở chỗ mỗi người chọn được con đường phù hợp với năng lực, sở trường của mình trên nền tảng một hệ thống giáo dục phổ thông vững chắc, một cơ chế đào tạo liên thông linh hoạt, và một thị trường lao động đủ sức trọng dụng chất xám.

Thị trường lao động vận hành theo nguyên tắc phân công: mỗi vị trí việc làm đòi hỏi một tổ hợp kiến thức, kỹ năng, thái độ tương ứng. Khung trình độ quốc gia Việt Nam xác lập rõ 8 bậc trình độ, trong đó đại học tương ứng bậc 6, thạc sĩ bậc 7, tiến sĩ bậc 8. Người có bậc trình độ cao không đương nhiên làm tốt hơn công việc thuộc bậc thấp, và ngược lại. Mỗi bậc học có chuẩn đầu ra riêng, không thể thay thế lẫn nhau.

Giá trị cốt lõi của đại học nằm ở chỗ đây chính là cái nôi hun đúc tư duy phản biện, phương pháp nghiên cứu khoa học, năng lực sáng tạo tri thức mới. Đó là nền tảng của mọi phát minh, sáng chế, công nghệ làm thay đổi đời sống nhân loại. Bước vào kỷ nguyên trí tuệ nhân tạo, khi giá trị lao động ngày càng phụ thuộc vào hàm lượng chất xám, vai trò ấy của đại học càng cần được khẳng định và đề cao.

Khóa học STEM "Lập trình cho Mobile Robot" cho học sinh phổ thông do Trường Đại học Bách khoa - Đại học Đà Nẵng tổ cchức. Ảnh: NTCC

Khóa học STEM "Lập trình cho Mobile Robot" cho học sinh phổ thông do Trường Đại học Bách khoa - Đại học Đà Nẵng tổ cchức. Ảnh: NTCC

Trong nền kinh tế công nghiệp hóa truyền thống, cơ cấu lao động thường có dạng hình chóp, với lao động phổ thông, tay nghề thấp chiếm số đông. Bước sang kinh tế tri thức, cơ cấu ấy dần chuyển sang dạng hình trống, khi tỉ trọng lao động bậc 5 (cao đẳng) và bậc 6 (đại học) tăng lên đáng kể. Sự phân bổ tỉ lệ giữa các bậc đào tạo, vì thế, không cố định mà biến động theo yêu cầu của thị trường lao động ở từng thời điểm, từng địa phương.

Suốt nhiều năm qua, chúng ta kiên trì thực hiện chủ trương phân luồng sau trung học cơ sở, song kết quả đạt được còn khiêm tốn so với mục tiêu đề ra. Thực tế này gợi mở một cách tiếp cận khác: thay vì áp đặt tỉ lệ phân luồng bằng biện pháp hành chính, nên để chính thị trường lao động thông qua tiền lương, cơ hội việc làm, môi trường sản xuất… đóng vai trò điều tiết. Khi thị trường đủ sức hấp dẫn lao động kỹ thuật tay nghề cao, người học sẽ tự nguyện lựa chọn con đường học nghề, học kỹ thuật viên. Đó mới là sự phân luồng thực chất và bền vững.

Vấn đề then chốt không phải là hạn chế học sinh vào đại học, mà là nâng chuẩn giáo dục phổ thông. Trong bối cảnh giáo dục STEM, chuyển đổi số, đổi mới sáng tạo đã trở thành thước đo của sự phát triển, trình độ trung học cơ sở là chưa đủ để bất kỳ ai, dù làm công việc gì, có thể nắm bắt được những quy luật cơ bản của tự nhiên, xã hội và công nghệ.

Cần sớm phổ cập giáo dục trung học phổ thông chất lượng cao, tăng cường giáo dục STEM ngay từ bậc phổ thông, để mỗi học sinh sau khi tốt nghiệp, dù chọn con đường đại học hay học nghề, đều có đủ nền tảng để tự học, tự phát triển suốt đời.

Đã đến lúc cần thay đổi một quan niệm ăn sâu bấy lâu: rằng "nhân lực chất lượng cao" chỉ gắn liền với tấm bằng đại học. Chính chất lượng giáo dục phổ thông đồng đều mới là nền móng thực sự cho nguồn nhân lực chất lượng cao của quốc gia. Vì vậy, các địa phương cần đầu tư thỏa đáng cho đội ngũ giáo viên, cơ sở vật chất, đủ để học sinh có thể học 2 buổi/ngày, hướng tới phổ cập trung học phổ thông, thay vì duy trì áp lực thi tuyển vào lớp 10 như một "cửa ải" sàng lọc sớm như hiện nay.

Khi có nền tảng giáo dục phổ thông tốt và một hệ thống liên thông linh hoạt, người học hoàn toàn có khả năng tự cân nhắc, lựa chọn con đường phù hợp với năng lực và hoàn cảnh của mình, mà không cần lo ngại tình trạng "đổ dồn" vào đại học. Thị trường lao động, chứ không phải mệnh lệnh hành chính, mới là bộ điều tiết tự nhiên và hiệu quả nhất.

Trên thế giới, không hiếm những người bỏ học đại học giữa chừng để khởi nghiệp thành công. Song đó là những trường hợp cá biệt, có tố chất đặc biệt, không đại diện cho số đông. Nhìn ra khu vực, các đô thị phát triển hàng đầu đều sở hữu một lực lượng lao động có trình độ đại học rất cao.

Theo các thống kê gần đây, tỉ lệ dân số trong độ tuổi lao động chủ lực (25–34 tuổi) có trình độ đại học trở lên tại Hàn Quốc đạt xấp xỉ 70%, Singapore khoảng 60%, Đài Bắc cũng ở mức trên dưới 70.

Chính lực lượng lao động này là nguồn tạo ra chất xám, sản phẩm đổi mới sáng tạo, giúp các nền kinh tế nói trên vượt qua bẫy thu nhập trung bình. Đại học không dừng lại ở bậc 6, mà còn là nền tảng để đào tạo tiếp lên bậc thạc sĩ, tiến sĩ, những người đảm nhận sứ mệnh tạo ra tri thức mới cho xã hội.

Vì vậy, khi sinh viên tốt nghiệp không tìm được việc làm phù hợp, câu hỏi cần đặt ra không phải là "vì sao đại học đào tạo thừa", mà là "vì sao nền kinh tế chưa đủ sức thu hút, trọng dụng lao động trình độ cao". Một nền kinh tế thực sự dựa trên tri thức và đổi mới sáng tạo phải là nền kinh tế có khả năng hấp thụ, sử dụng hiệu quả lực lượng lao động trình độ đại học trở lên. Đó mới thực sự là đích đến mà chúng ta cần hướng tới.

Lời kết: Thành công của những người không qua cánh cổng giảng đường đại học không đến từ sự may mắn ngẫu nhiên, mà đó là kết quả của một quá trình bền bỉ, trong đó kỷ luật thép, khát vọng cháy bỏng và khả năng thích ứng linh hoạt với thị trường là nền tảng vững chắc dẫn tới con đường thành công. Đại học trao cho bạn một tấm bản đồ có sẵn, nhưng những người vượt khó, vươn lên bằng thực lực đã tự tay vẽ nên bản đồ của riêng họ. Và cuối cùng, xã hội không đánh giá bạn qua tấm bằng bạn cầm trên tay, mà qua giá trị thực tế mà bạn đã mang lại cho cuộc đời, cho xã hội.

Lời tòa soạn: Đại học từ lâu được xem là "cánh cổng vàng" hay con đường ngắn nhất dẫn đến đỉnh cao sự nghiệp. Tuy nhiên, trong một thế giới phẳng, năng động và phát triển từng ngày, quan niệm này không còn giữ thế độc tôn. Đại học không phải là con đường thành công duy nhất, mà chỉ là một trong nhiều lựa chọn để mỗi người khai phá tiềm năng và xây dựng tương lai của chính mình. Hưởng ứng thông điệp "Đại học không phải là con đường duy nhất", Báo Giáo dục và Thời đại thực hiện loạt bài nêu những tấm gương điển hình, khởi nghiệp thành công mà không qua con đường đại học.

* Những người khởi nghiệp và kinh doanh sớm:

* Học nghề và giáo dục chuyên sâu (Vocational Training):

* Tự học và kinh nghiệm thực chiến (Self-taught & Experience):

*Tinh thần học tập suốt đời (Lifelong Learning):

* Năng lực thực tế định hình khả năng nghề nghiệp: Trải nghiệm thực tiễn, kỹ năng nghề nghiệp và khả năng vận dụng kiến thức đang trở thành những yếu tố quan trọng, giúp người lao động thích ứng với yêu cầu của thị trường. (Kỳ cuối).

Nguồn GD&TĐ: https://giaoducthoidai.vn/ky-cuoi-dat-nang-luc-vao-dung-vi-tri-post788887.html