Kỳ 2: Hạ tầng chiến lược mở không gian phát triển mới

Hạ tầng chiến lược đang trở thành những “cánh cửa” đưa Việt Nam kết nối sâu hơn với khu vực và thế giới. Khi hạ tầng đi trước mở lối, những dòng chảy mới của kinh tế, thương mại và giao lưu quốc tế cũng bắt đầu cất cánh.

Từ những cảng nước sâu, những ga liên vận, những đường bay và những không gian đô thị mới, một mạng lưới kết nối ngày càng rộng mở, đưa Việt Nam ngày càng vươn xa.

Từ những cảng nước sâu, những ga liên vận, những đường bay và những không gian đô thị mới, một mạng lưới kết nối ngày càng rộng mở, đưa Việt Nam ngày càng vươn xa.

Kỳ 1: Những cái bắt tay mở lối cho hành trình xuyên biên giới

Kỳ 2: Hạ tầng chiến lược mở không gian phát triển mới

Cảng biển - những cửa ngõ chiến lược của nền kinh tế

Ngày 4/8, tàu container LI DA TONG 2 HAO cập cảng Cần Thơ, khép lại hành trình thử nghiệm trên tuyến hàng hải kết nối Nam Ninh (Quảng Tây, Trung Quốc) với Cần Thơ.

Đây là chuyến tàu do Tổng công ty Hàng hải Việt Nam (VIMC), Công ty CP Cảng Cần Thơ phối hợp với Tập đoàn Cảng Vịnh Bắc Bộ (Trung Quốc) và các đối tác logistics tổ chức, nhằm đánh giá khả năng khai thác tuyến vận tải trực tiếp giữa hai khu vực.

Không chỉ là một chuyến tàu thử nghiệm, hành trình này còn mang theo những dữ liệu quan trọng về điều kiện khai thác, nhu cầu thị trường và hiệu quả vận hành. Đây sẽ là cơ sở để đánh giá khả năng hình thành tuyến container thường xuyên giữa Nam Ninh và Cần Thơ.

Nếu tuyến vận tải được đưa vào khai thác ổn định, doanh nghiệp sẽ có thêm một phương án vận chuyển với chi phí hợp lý, góp phần nâng cao hiệu quả chuỗi cung ứng, đồng thời thúc đẩy vận tải theo hướng xanh và bền vững.

Câu chuyện tại cảng Cần Thơ cho thấy một hướng đi ngày càng rõ nét của ngành hàng hải: cảng biển không chỉ là nơi tiếp nhận tàu, mà đang từng bước trở thành những điểm kết nối các dòng hàng hóa, mở rộng không gian giao thương của nền kinh tế.

Những năm qua, VIMC cho biết, việc đầu tư các cảng nước sâu tại Cái Mép - Thị Vải và Lạch Huyện đã tạo nên những cửa ngõ hàng hải chiến lược, kết nối trực tiếp Việt Nam với các tuyến vận tải xuyên Thái Bình Dương và châu Âu.

Tại Lạch Huyện, Bến 3, 4 là liên doanh giữa VIMC và MSC/TiL, có khả năng tiếp nhận tàu mẹ 165.000 DWT, sức chở 14.000 TEU và sẽ tiếp tục được nâng cấp để tiếp nhận tàu trên 200.000 DWT.

Theo VIMC, quy mô hàng hóa thông qua cảng biển không ngừng được mở rộng.

Theo VIMC, quy mô hàng hóa thông qua cảng biển không ngừng được mở rộng.

Trong khi đó, Cảng Quốc tế Cái Mép (CMIT), liên doanh giữa VIMC, Cảng Sài Gòn và APM Terminals, có khả năng tiếp nhận siêu tàu container tới 214.000 DWT, sức chở hơn 18.000 TEU. Cảng Quốc tế SP-SSA cũng có khả năng tiếp nhận tàu trên 200.000 DWT.

Cùng với việc mở rộng năng lực tiếp nhận tàu, quy mô hàng hóa qua hệ thống cảng biển cũng không ngừng tăng lên. Theo VIMC, sản lượng hàng hóa thông qua cảng biển tăng từ 706,1 triệu tấn năm 2021 lên khoảng 940,3 triệu tấn năm 2025.

Năng lực khai thác của hệ thống cảng được nâng lên rõ rệt. Khu bến Lạch Huyện (Hải Phòng) có thể tiếp nhận tàu container đến 165.000 DWT, trong khi khu bến Cái Mép (TP Hồ Chí Minh) có khả năng tiếp nhận tàu đến 232.000 DWT.

Ý nghĩa lớn hơn nằm ở khả năng đưa hàng hóa Việt Nam đi thẳng tới những thị trường lớn như Mỹ, châu Âu mà không phải qua các cảng trung chuyển trong khu vực.

Khi đó, hạ tầng cảng biển không còn đơn thuần là nơi hàng hóa đi qua, mà thực sự trở thành cửa ngõ của nền kinh tế, rút ngắn hành trình từ sản xuất trong nước tới thị trường toàn cầu.

Năm 2025, tổng sản lượng hàng hóa thông qua hệ thống cảng biển VIMC đạt khoảng 162 triệu tấn, chiếm khoảng 20% sản lượng hàng hóa thông qua hệ thống cảng biển Việt Nam. Toàn hệ thống hiện có hơn 40 tuyến vận tải biển quốc tế kết nối các cảng Việt Nam với châu Mỹ, châu Âu và hàng trăm tuyến kết nối khu vực nội Á.

Những con số này cho thấy mạng lưới hàng hải đang không ngừng được mở rộng, tạo thêm những tuyến kết nối trực tiếp và những lựa chọn vận tải mới cho doanh nghiệp.

Không chỉ khu vực doanh nghiệp nhà nước, các doanh nghiệp tư nhân cũng đang góp thêm những mắt xích quan trọng vào mạng lưới cảng biển và logistics.

Ngày 17/4/2026, Dự án Cảng nước sâu Gemalink - giai đoạn 2 được khởi công tại Cái Mép - Thị Vải, tiếp tục có sự đồng hành của đối tác chiến lược CMA CGM - một trong ba hãng tàu container có quy mô lớn nhất thế giới.

Sau 5 năm khai thác giai đoạn 1 (2021-2025) với sản lượng 6,5 triệu TEU, giai đoạn 2 được kỳ vọng đưa công suất cảng lên hơn 3 triệu TEU/năm.

Theo ông Phạm Quốc Long, Phó Tổng giám đốc Tập đoàn Gemadept, hợp tác quốc tế không chỉ dừng ở việc huy động nguồn vốn. Những năm qua, Gemadept còn thúc đẩy hợp tác với các đối tác quốc tế để phát triển cảng thông minh Smartport, đồng thời xanh hóa hạ tầng và vận tải.

Từ đầu tư hạ tầng, mở rộng công suất đến thu hút các hãng tàu lớn, phát triển cảng thông minh và xanh hóa vận tải, những hợp tác này đang tạo thêm năng lực mới cho hệ thống logistics Việt Nam.

Quan trọng hơn, mỗi tuyến tàu mới, mỗi cảng nước sâu được nâng cấp và mỗi mắt xích logistics được kết nối đều góp phần mở rộng cánh cửa đưa hàng hóa Việt Nam ra thị trường quốc tế.

Những kết nối ấy đang tạo nên nền tảng để vận tải cất cánh, đồng thời mở rộng những dòng chảy mới của thương mại và phát triển.

Tàu liên vận quốc tế chuyên tuyến container trên sân ga.

Tàu liên vận quốc tế chuyên tuyến container trên sân ga.

Từ những ga đường sắt đến hành lang logistics xuyên biên giới

Nếu hàng hải mở những cửa ngõ ra biển lớn, đường sắt đang từng bước mở sâu hơn các hành lang vận tải liên vận quốc tế vào nội địa, đưa hàng hóa từ các trung tâm sản xuất đến những thị trường rộng lớn trong khu vực và trên thế giới.

Việt Nam hiện tham gia Tổ chức Hợp tác Đường sắt (OSJD), Hiệp hội Đường sắt Quốc tế (UIC) và Hội nghị Tổng Giám đốc Đường sắt các nước ASEAN. Thông qua các cơ chế hợp tác này, ngành đường sắt không chỉ từng bước mở rộng kết nối hạ tầng bằng những chuyến tàu xuyên biên giới, mà còn tăng cường hợp tác, tìm kiếm nguồn lực để nâng cao năng lực hạ tầng và phương tiện.

Cùng với mở rộng hợp tác quốc tế, nhiều ga đường sắt đang được đầu tư để trở thành những điểm kết nối mới trong chuỗi logistics. Các ga Kép, Cao Xá, Vật Cách, Sóng Thần được nâng cấp với các bãi hàng tiêu chuẩn, đáp ứng nhu cầu vận tải liên vận quốc tế, đặc biệt là hàng container đi Trung Quốc và quá cảnh qua Trung Quốc tới Trung Á, Nga, châu Âu.

Theo ông Nguyễn Chính Nam, Phó Tổng giám đốc Tập đoàn Đường sắt Quốc gia Việt Nam, việc nâng cấp các ga liên vận quốc tế giúp tăng thêm đầu mối thông quan, gom hàng, lập tàu, qua đó giảm áp lực cho các ga truyền thống. Đồng thời, hệ thống ga được nâng cấp còn phục vụ hiệu quả nhu cầu vận chuyển của các khu công nghiệp, hàng container lạnh và hàng xuất nhập khẩu tại các khu vực lân cận.

Đây cũng là cách những nhà ga đường sắt đang thay đổi vai trò của mình. Từ một ga nội địa, hạ tầng đường sắt có thể trở thành điểm mở của cả một chuỗi logistics quốc tế, tạo điều kiện để doanh nghiệp tổ chức lập tàu đi Trung Quốc, Nga, Kazakhstan, Mông Cổ và châu Âu.

Hiệu quả của những kết nối này đang ngày càng rõ nét. Năm 2025, khối lượng hàng hóa xuất nhập khẩu vận chuyển bằng đường sắt đạt 1,21 triệu tấn, tăng 19% so với năm 2024. Riêng 6 tháng đầu năm 2026, vận tải hàng hóa liên vận quốc tế đạt khoảng 500 nghìn tấn.

Không chỉ hàng hóa, những tuyến đường sắt liên vận còn mở rộng không gian giao lưu giữa các quốc gia. Từ ngày 25/5/2025, đường sắt Việt Nam và Trung Quốc khôi phục chạy tàu khách liên vận quốc tế trên các tuyến Gia Lâm - Nam Ninh, Hà Nội - Bắc Kinh, đáp ứng nhu cầu đi lại, giao lưu và hợp tác kinh tế giữa hai nước.

Qua những tuyến tàu ấy, hàng hóa Việt Nam, đặc biệt là nông sản, thủy hải sản và những mặt hàng có thế mạnh, có thêm điều kiện tham gia sâu hơn vào các chuỗi cung ứng khu vực và toàn cầu.

Tuy nhiên, để những hành lang logistics xuyên biên giới phát triển dài hạn, hạ tầng đường sắt đang đứng trước yêu cầu đổi mới mạnh mẽ.

Theo Cục Đường sắt Việt Nam, Quy hoạch mạng lưới đường sắt thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050 đặt mục tiêu quy hoạch 18 tuyến đường sắt mới điện khí hóa, khổ tiêu chuẩn 1.435 mm, tổng chiều dài 4.234 km; trong đó ưu tiên các tuyến kết nối quốc tế với Trung Quốc và Lào.

Định hướng này đang gắn với những dự án kết nối có ý nghĩa chiến lược như đường sắt Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng, các tuyến Hà Nội - Đồng Đăng và Hải Phòng - Hạ Long - Móng Cái. Khi hoàn thiện, những tuyến đường này không chỉ bổ sung năng lực vận tải mà còn mở rộng các hành lang giao thương từ sâu trong nội địa tới các cửa ngõ khu vực.

Cùng với đầu tư hạ tầng, hợp tác quốc tế cũng được mở rộng sang những lĩnh vực nền tảng cho tương lai của ngành đường sắt. Việt Nam hợp tác với Pháp và Hàn Quốc trong đào tạo nhân lực đường sắt tốc độ cao; đồng thời phối hợp với Australia trong dự án hỗ trợ kỹ thuật xây dựng hệ thống quản lý tài sản hạ tầng đường sắt bằng dữ liệu số.

Từ những nhà ga được nâng cấp đến các tuyến đường sắt xuyên biên giới, một mạng lưới kết nối mới đang từng bước hình thành. Đường sắt không chỉ đưa hàng hóa đi xa hơn, mà đang mở thêm những hành lang để Việt Nam kết nối sâu hơn với các chuỗi logistics và thị trường quốc tế.

Hàng không là một ví dụ rõ nét về mối quan hệ giữa hạ tầng và khả năng mở rộng kết nối quốc tế (Ảnh: Kiểm soát không lưu).

Hàng không là một ví dụ rõ nét về mối quan hệ giữa hạ tầng và khả năng mở rộng kết nối quốc tế (Ảnh: Kiểm soát không lưu).

Mở cánh cửa bầu trời, đón những dòng chảy mới

Cùng với cảng biển và đường sắt, hàng không là một minh chứng rõ nét cho mối quan hệ giữa hạ tầng và khả năng mở rộng kết nối quốc tế. Mỗi đường bay mới không chỉ nối hai điểm trên bản đồ, mà phía sau đó là cả một hệ thống hạ tầng, công nghệ và năng lực điều hành được chuẩn bị để dòng chảy hàng không vận hành an toàn, liên tục và hiệu quả.

Ông Nguyễn Mạnh Kiên, Phó Tổng giám đốc Tổng công ty Quản lý bay Việt Nam (VATM), cho biết trong lĩnh vực quản lý không lưu, hợp tác quốc tế là một phần trực tiếp của năng lực bảo đảm hoạt động bay. Mỗi chuyến bay đều đi qua chuỗi phối hợp giữa nhiều cơ quan, vùng thông báo bay và hệ thống kỹ thuật, vì vậy việc kết nối, chia sẻ kinh nghiệm và tiếp cận công nghệ quốc tế có ý nghĩa quan trọng đối với năng lực khai thác.

Theo lãnh đạo VATM, hợp tác quốc tế trong quản lý bay được triển khai từ những nhu cầu rất cụ thể. VATM đã phối hợp với các đối tác Hoa Kỳ thử nghiệm hệ thống thời tiết hàng không tiên tiến; xây dựng nền tảng về khái niệm khai thác, yêu cầu chức năng mức cao của hệ thống ATM tự động hóa và các yêu cầu đối với hệ thống ATFM quốc gia. Đồng thời, VATM hợp tác với Boeing đánh giá vùng trời, phương thức bay cho các cụm Tân Sơn Nhất - Long Thành và Nội Bài - Gia Bình.

Cùng với năng lực quản lý không lưu, hạ tầng điều hành bay cũng đang được tăng cường để đáp ứng không gian khai thác ngày càng mở rộng. Tổ hợp Trung tâm Kiểm soát không lưu Hồ Chí Minh được đưa vào khai thác từ ngày 19/12/2025, qua đó tăng năng lực điều hành vùng thông báo bay Hồ Chí Minh, củng cố khả năng dự phòng và tạo nền tảng tổ chức điều hành các hoạt động bay liên quan đến Cảng hàng không quốc tế Long Thành.

Các hệ thống chủ chốt phục vụ quản lý bay tại Long Thành cũng đã hoàn thành lắp đặt, kiểm tra và thử nghiệm theo các yêu cầu về kỹ thuật, an toàn và khai thác.

Hạ tầng hàng không và năng lực điều hành bay vì thế không chỉ bảo đảm cho những chuyến bay hiện hữu, mà còn tạo dư địa để các đường bay mới được mở ra.

Theo ông Nguyễn Quang Trung, Phó Tổng giám đốc Vietnam Airlines, khi các cảng hàng không được nâng cấp, mở rộng, năng lực khai thác và slot bay cho các hãng cũng được cải thiện, tạo điều kiện để doanh nghiệp tính toán mở thêm đường bay.

Khi những đường bay mới đi vào vận hành, hiệu quả không chỉ nằm ở số chuyến bay hay lượng hành khách. Đó còn là khả năng rút ngắn thời gian đi lại, giúp doanh nghiệp tiếp cận đối tác nhanh hơn, đưa khách quốc tế đến Việt Nam thuận tiện hơn và mở thêm những tuyến vận chuyển trực tiếp cho hàng hóa có giá trị cao tới Tây Âu.

Sự mở rộng của mạng bay quốc tế đang cho thấy rõ hiệu quả của quá trình này. Năm 2025, Vietnam Airlines mở mới và khôi phục 14 đường bay quốc tế, mức cao nhất trong một năm kể từ khi hãng thành lập. Các đường bay trải rộng trên bốn khu vực gồm châu Âu, Đông Bắc Á, Nam Á và Đông Nam Á.

Trong 6 tháng đầu năm 2026, Vietnam Airlines vận chuyển gần 4,8 triệu lượt khách quốc tế, tăng 18,8% so với cùng kỳ; tổng sản lượng hành khách đạt trên 13 triệu lượt, tăng 4%.

Những con số này cho thấy, khi hạ tầng được mở rộng và năng lực khai thác được nâng lên, đường bay không còn đơn thuần là một tuyến vận tải, mà trở thành dòng chảy của hành khách, thương mại, du lịch và những cơ hội hợp tác mới.

Đáng chú ý, sự mở rộng không chỉ diễn ra ở một doanh nghiệp mà đang lan ra toàn thị trường hàng không quốc tế. Hiện có 81 hãng hàng không tham gia thị trường quốc tế tại Việt Nam.

Trong đó, 4 hãng hàng không Việt Nam gồm Vietnam Airlines, Vietjet Air, Vietravel Airline và Sun Phu Quoc Airways khai thác các chuyến bay thường lệ quốc tế đến 22 quốc gia và vùng lãnh thổ với trên 103 đường bay.

Cùng với đó, 77 hãng hàng không nước ngoài của 30 quốc gia và vùng lãnh thổ đang khai thác các chuyến bay thường lệ quốc tế, chở khách hoặc chở hàng, đến Việt Nam với 157 đường bay.

Từ hạ tầng sân bay, hệ thống quản lý không lưu đến mạng lưới đường bay, từng lớp kết nối đang được mở rộng. Hạ tầng đi trước, đường bay nối dài, và phía sau những đường bay ấy là những dòng chảy ngày càng lớn của con người, hàng hóa, thương mại và cơ hội hợp tác quốc tế.

Hội đàm giữa Bộ Xây dựng Việt Nam và Bộ MOLIT Hàn Quốc về hợp tác sâu rộng trong phát triển hạ tầng giao thông, đô thị.

Hội đàm giữa Bộ Xây dựng Việt Nam và Bộ MOLIT Hàn Quốc về hợp tác sâu rộng trong phát triển hạ tầng giao thông, đô thị.

Mở không gian phát triển từ những kết nối đa tầng

Từ cảng biển, đường sắt đến hàng không, một điểm chung đang ngày càng rõ nét: hợp tác quốc tế không còn chỉ dừng ở việc mở thêm tuyến vận tải hay huy động nguồn lực cho một công trình, mà đang đi sâu vào toàn bộ quá trình phát triển hạ tầng chiến lược, từ quy hoạch, chuẩn bị đầu tư đến công nghệ, tiêu chuẩn kỹ thuật, quản trị và đào tạo nhân lực.

Theo ông Nguyễn Trung Thành, Vụ trưởng Vụ Hợp tác quốc tế, Bộ Xây dựng, đây là một trong những chuyển biến đáng chú ý trong cách tiếp cận hợp tác quốc tế của Bộ Xây dựng thời gian gần đây.

Trong 8 tháng đầu năm 2026, hợp tác quốc tế được thúc đẩy gắn với quá trình chuẩn bị và triển khai nhiều dự án hạ tầng chiến lược như Cảng hàng không quốc tế Long Thành, đường sắt Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng, đường sắt tốc độ cao Bắc - Nam và các tuyến đường sắt kết nối với Trung Quốc.

Đây đều là những dự án quy mô lớn, yêu cầu cao về công nghệ, tiêu chuẩn kỹ thuật, quản trị và nguồn nhân lực, trong khi một số lĩnh vực Việt Nam chưa có nhiều kinh nghiệm. Vì vậy, giá trị của hợp tác quốc tế không chỉ nằm ở việc huy động nguồn lực tài chính, mà quan trọng hơn là khả năng tiếp nhận công nghệ, tri thức, tiêu chuẩn và kinh nghiệm tổ chức thực hiện tiên tiến để nâng cao năng lực nội tại.

Hợp tác quốc tế đang đi sâu vào toàn bộ quá trình phát triển hạ tầng chiến lược, từ quy hoạch, chuẩn bị đầu tư đến công nghệ, tiêu chuẩn, quản trị và đào tạo nhân lực.

Giá trị của hợp tác vì thế không chỉ nằm ở nguồn lực bên ngoài, mà còn ở khả năng tiếp nhận tri thức, công nghệ và kinh nghiệm quốc tế để nâng cao năng lực nội tại, tạo sức bật cho ngành hạ tầng.

Ông Nguyễn Trung Thành - Vụ trường Vụ Hợp tác quốc tế - Bộ Xây dựng

Đáng chú ý, cách thức hợp tác đang chuyển theo hướng chủ động và sớm hơn, ngay từ quá trình nghiên cứu, chuẩn bị dự án. Bộ Xây dựng đã phối hợp với Ban Quản lý dự án Thăng Long tổ chức Roadshow khảo sát thị trường, thu thập phản hồi phục vụ lựa chọn tư vấn lập Báo cáo nghiên cứu khả thi Dự án đường sắt tốc độ cao Bắc - Nam. Qua đó, các tổ chức tư vấn, doanh nghiệp và thị trường quốc tế được tiếp cận ngay từ những bước đầu của dự án.

Đối với các tuyến đường sắt kết nối Việt Nam - Trung Quốc, hai bên đã có Thỏa thuận thực hiện hợp tác kỹ thuật lập quy hoạch hai tuyến Hà Nội - Đồng Đăng và Hải Phòng - Hạ Long - Móng Cái. Bộ Xây dựng và Ủy ban Phát triển và Cải cách quốc gia Trung Quốc cũng ký Bản ghi nhớ về hợp tác đào tạo đường sắt, góp phần nâng cao năng lực nguồn nhân lực đường sắt Việt Nam.

Những cách làm này cho thấy hợp tác quốc tế đang chuyển từ việc tìm kiếm nguồn lực cho từng công trình sang đồng hành trong cả quá trình phát triển hạ tầng - từ nghiên cứu, quy hoạch, công nghệ, tiêu chuẩn đến tổ chức thực hiện.

Từ những cảng nước sâu, những ga liên vận, những đường bay quốc tế đến các dự án hạ tầng chiến lược đang được triển khai, một mạng lưới kết nối ngày càng rộng đang từng bước hình thành.

Đó không chỉ là những tuyến đường nối các điểm trên bản đồ. Đó là những dòng chảy mới của con người, hàng hóa, vốn, công nghệ và tri thức. 

Hạ tầng mở lối. Vận tải cất cánh. Những kết nối mới mở rộng không gian phát triển, nâng cao năng lực cạnh tranh và tạo thêm động lực để Việt Nam hội nhập sâu hơn với khu vực và thế giới.

Nhóm PV Giao thông

Nguồn Xây Dựng: https://baoxaydung.vn/ky-2-ha-tang-chien-luoc-mo-khong-gian-phat-trien-moi-192260828013101515.htm