Kinh tế tư nhân với sự phát triển của đất nước
Kinh tế tư nhân có lịch sử hình thành lâu dài và ngày càng khẳng định vai trò trong phát triển đất nước. Quá trình thay đổi nhận thức của Đảng qua các giai đoạn và ý nghĩa của Nghị quyết 68 cho thấy bước chuyển quan trọng trong thúc đẩy khu vực này.
Những thành tựu và những hạn chế trong phát triển kinh tế tư nhân (KTTN) đã được nhiều bài viết công bố, minh họa thêm. Trong bài viết này, chúng tôi muốn tìm hiểu cặn kẽ hơn về KTTN, chẳng hạn như có đi ngược với đường lối xây dựng CNXH không?, xuất hiện từ bao giờ?, phát triển ra sao ở Việt Nam qua các thời kỳ lịch sử?, KTTN hoạt động theo nguyên lý nào? Hay NQ68 ra đời đã đúng thời điểm chưa?,… Quả thực nhiều người sẽ cho rằng những điều tôi vừa nêu có cần thiết không và đặt vấn đề như vậy có làm phức tạp thêm việc thực hiện NQ68 không nhưng chúng tôi cho rằng, những vấn đề đó sẽ làm rõ hơn những những hạn chế của KTTN mà NQ68 đã nêu và tin tưởng hơn những thành tựu, mục tiêu sẽ đạt được khi thực hiện Nghị quyết này.

Những hiểu biết về KTTN
Khái niệm về KTTN cùng hoạt động, phát triển của nó không đơn giản và dễ hiểu. Nếu coi KTTN là nơi cá nhân sở hữu và kiểm soát tài nguyên để kiếm lời thì nó có nguồn gốc sâu xa theo lịch sử loài người, phát triển cùng với sự phát triển của xã hội. Ngay trong xã hội săn bắt hái lượm (xã hội nguyên thủy), một mức độ sở hữu tư nhân cũng đã tồn tại, với các cá nhân sở hữu đồ đạc và công cụ cá nhân. Sự chuyển đổi sang nông nghiệp khoảng 10.000 năm trước đã đánh dấu một bước chuyển đáng kể, khi có kinh tế hộ gia đình cùng sở hữu đất đai do mình khai hoang cùng sản phẩm thu hoạch được và quá trình tích trữ, buôn bán, trao đổi quy mô nhỏ (chợ chẳng hạn) giữa các hộ gia đình và mở rộng ra các cộng đồng, dân tộc. Khi sản phẩm nông sản và các dụng cụ, thiết bị được sản xuất nhiều hơn đã xuất hiện những gia đình, họ tộc chiếm giữ nhiều hơn đất đai, sản xuất ra nhiều sản phẩm hơn thành dạng hàng hóa và có sự trao đổi thương mại quy mô lớn và phát triển mạnh. Chẳng hạn, trong thời kỳ hoàng kim Hồi giáo, các học giả và thương gia Hồi giáo đã phát triển các hoạt động giống như tư bản, bao gồm thương mại tự do, hệ thống ngân hàng và kế toán dựa trên chữ số Ấn-Ả Rập. Những đổi mới này sau đó đã ảnh hưởng đến châu Âu.
Thế nhưng, có lẽ KTTN phát triển mạnh nhất từ sự hình thành chủ nghĩa tư bản (CNTB) như một hệ thống xuất hiện ở châu Âu trong thời kỳ đầu hiện đại, với sự trỗi dậy của chủ nghĩa trọng thương và chủ nghĩa tư bản nông nghiệp. Cuộc cách mạng công nghiệp vào thế kỷ 18 và 19 đã củng cố thêm CNTB, với sự phát triển của các nhà máy, sản xuất hàng loạt và sự phân công lao động phức tạp. Từ đây, KTTN biểu hiện rõ hơn cả về quy mô và sự đa dạng trong sản xuất và thương mại, hình thành nên những cá nhân sở hữu nhiều loại tư liệu sản xuất (đất đai, công cụ sản xuất nông nghiệp, thủ công nghiệp và công nghiêp) và nhiều loại sản phẩm, cả nông nghiệp và phi nông nghiệp.
Sau này, khi chủ nghĩa tư bản được hình thành, doanh nghiệp tư nhân vẫn tiếp tục phát triển, với sự xuất hiện của các công ty cổ phần, sàn giao dịch chứng khoán và sự phát triển của các mạng lưới thương mại toàn cầu.
Về bản chất, trong khi khái niệm chính thức về nền KTTN và CNTB như một hệ thống phát triển theo thời gian, thì mầm mống của quyền sở hữu tư nhân và trao đổi thị trường đã hiện diện dưới nhiều hình thức khác nhau trong suốt lịch sử loài người. Từ đó cho thấy, KTTN là một phần của xã hội loài người và mặc dù có những thay đổi về loại hình, quy mô nhưng không dễ bị xóa bỏ, đặc biệt khi các loại hàng hóa, dịch vụ chưa đủ thỏa mãn mọi người. Phải chăng, chỉ khi xây dựng được chủ nghĩa cộng sản với nguyên tắc phân phối: "Làm theo năng lực, hưởng theo nhu cầu" được Các Mác đề xuất trong tác phẩm "Phê phán Cương lĩnh Gotha" thì các mầm mống sở hữu cá nhân mới hết và KTTN cũng dần mất đi. Nguyên tắc này có nghĩa là mọi người sẽ đóng góp sức lao động của mình tùy theo khả năng và sẽ được hưởng thụ các sản phẩm, dịch vụ theo nhu cầu cá nhân và chỉ thực hiện được khi có nền kinh tế phát triển hiện đại, tự động hóa hoàn toàn và nhiều điều kiện nào đó kèm theo mà con người chưa hình dung ra hết.
Vậy, trong giai đoạn xây dựng XHCN như ở nước ta hiện nay, chắc chắn KTTN vẫn có chỗ đứng và nếu tạo điều kiện phát triển thì nó sẽ đóng vai trò lớn hơn nhiều và có những đóng góp nhiều hơn những gì đã được nêu trong Nghị quyết 68 của Bộ Chính trị.
Chúng tôi không có tham vọng nghiên cứu sâu hơn về KTTN trong suốt các giai đoạn lịch sử loài người và của toàn nhân loại mà chỉ xin nêu một số suy ngẫm, nhận thức của mình về phát triển KTTN của Việt Nam giai đoạn hiện đại (Thế kỷ XX đến nay).

Quan điểm của Đảng về KTTN
Trước khi thành lập Đảng (đến năm 1930) xã hội Việt Nam là xã hội thuộc địa, xã hội thực dân nửa phong kiến. Người dân chịu hai tầng áp bức: sự thống trị của đế quốc thực dân (Pháp) và sự tồn tại, duy trì của chế độ phong kiến bản địa do giai cấp địa chủ nắm giữ quyền lực. Do đó họ phải chịu hai ách áp bức, bóc lột, dẫn đến cảnh sống lầm than, nghèo đói và bất công trên diện rộng. Trong đó giai cấp nông dân, lực lượng đông đảo nhất trong xã hội Việt Nam, bị thực dân và phong kiến áp bức, bóc lột nặng nề nhất. Giai cấp công nhân Việt Nam ra đời từ cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất của thực dân Pháp, đa số xuất thân từ giai cấp nông dân, có quan hệ trực tiếp và chặt chẽ với giai cấp nông dân cũng bị đế quốc, phong kiến áp bức bóc lột. Giai cấp tư sản Việt Nam bị tư sản Pháp và tư sản người Hoa cạnh tranh chèn ép, do đó thế lực kinh tế và địa vị chính trị nhỏ bé và yếu ớt. Tầng lớp tiểu tư sản Việt Nam bao gồm học sinh, trí thức, những người làm nghề tự do… đời sống bấp bênh, dễ bị phá sản trở thành người vô sản.
Như vậy, nền kinh tế trong xã hội Việt Nam đầu thế kỷ 20 cho đến 1930 rất lạc hậu. Ở nông thôn chủ yếu là sản xuất mang tính tự cung, tự cấp, ở thành thị có sản xuất một số mặt hàng nhưng với công nghệ truyền thống, lạc hậu và quy mô nhỏ. Mặc dù giai cấp tư sản bản địa còn yếu và bị chèn ép nhưng cũng đã xuất hiện những nhà tư sản dân tộc có tiềm lực khá lớn như Bạch Thái Bưởi, Ngô Tử Hạ, Nguyễn Sơn Hà, Trịnh Văn Bô, Đỗ Đình Thiện,… Nếu coi KTTN bao gồm kinh tế cá thể, kinh tế hộ gia đình, các nhà máy, công xưởng do tư nhân, nhà tư sản làm chủ thì có thể nói KTTN là thành phần chính yếu của nền kinh tế Việt Nam trước 1930.

Nói cách khác KTTN có từ rất sớm và các vị lãnh đạo tiền bối của Đảng đã có những nhận xét, đánh giá vai trò của thành phần này trong quá trình phát triển của dân tộc. Từ khi thành lập Đảng, năm 1930 đến nay quan niệm về KTTN và vai trò của nó trong phát triển kinh tế của Đảng đã có nhiều thay đổi.
Giai đoạn từ 1930 đến 1954, Đảng vừa mới thành lập còn non yếu nhiều mặt, trong khi Đảng rất thống nhất nhận thức phải làm cách mạng dân tộc, dân chủ, đánh đuổi thực dân, đánh đổ chế độ phong kiến để giành độc lập cho đất nước, giành tự do, hạnh phúc cho nhân dân thì nhận thức về con đường đi lên CNXH còn nhiều tranh cãi và tất nhiên nhận thức về KTTN còn nhiều chỗ chưa đồng thuận. Ngay cả nhận thức về giai cấp cũng còn ở mức thấp, đặc biệt là nhận thức về giai cấp công nhân vì giai cấp này chưa thật sự vững mạnh và cán bộ lãnh đạo của Đảng có nhiều người xuất thân từ giai cấp khác. Chính vì vậy mới có phong trào đi “vô sản hóa” của nhiều chiến sĩ cách mạng tiền bối, góp phần nâng cao trình độ giác ngộ của giai cấp công nhân về sứ mệnh lịch sử của mình, chuẩn bị cho việc thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam và cả thời kỳ nhiều năm sau đó.
Đảng ta từ khi ra đời đã chọn mục tiêu hoạt động là “làm cho thực hiện xã hội cộng sản” (Cương lĩnh 1930). Đây là mục tiêu hoàn toàn mới tính đến thời điểm đó và là mục tiêu xuyên suốt trong các giai đoạn sau này. Với chủ nghĩa cộng sản, vấn đề sở hữu tư liệu sản xuất luôn là điều đặt ra đầu tiên và chắc chắn khi đã đạt được thì phải là công hữu, là thuộc về toàn dân. Trong khi KTTN lại dựa vào chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất, ở nông thôn đất đai là tư liệu sản xuất chính, còn ở thành thị, nhà xưởng, thiết bị là tư liệu chính đều có chủ sở hữu tư nhân.
Như vậy, trong giai đoạn này, Đảng phải lãnh đạo toàn dân thực hiện cuộc chiến giải phóng dân tộc, giành chính quyền về tay vào năm 1945, thành lập được nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa. Tiếp đến là cuộc kháng chiến không cân sức với thực dân Pháp.
Theo chúng tôi giai đoạn này nhiều nhà tiền bối cách mạng của Đảng đã nghiên cứu kỹ hơn chủ nghĩa Mác-Lênin, qua đó hiểu được (trên cơ sở lý thuyết) về chế độ tư hữu tư liệu sản xuất, coi đó là nền tảng của CNTB, nơi tư liệu sản xuất thuộc về giai cấp tư sản, dẫn đến bóc lột lao động và phân phối không công bằng. Điều này đã được minh chứng ở một số quốc gia, ngay cả ở Pháp, Anh, Đức. Do đó, chủ nghĩa Mác-Lênin đề cao sở hữu công cộng về tư liệu sản xuất dưới hình thức sở hữu toàn dân, do nhà nước quản lý và coi đây là đặc trưng cơ bản của CNXH nhằm phân phối lại của cải xã hội một cách công bằng.
Nguồn gốc và bản chất của tư hữu tư liệu sản xuất cũng được nghiên cứu, từng bước làm rõ các khái niệm như: Tư liệu sản xuất (TLSX): bao gồm các yếu tố đầu vào của quá trình sản xuất như nhà xưởng, máy móc, công cụ lao động, tài nguyên thiên nhiên, nguyên liệu, và vốn; Tư hữu tư liệu sản xuất: là tình trạng tư liệu sản xuất thuộc về cá nhân hoặc một nhóm người thay vì thuộc về toàn xã hội.
Đặc biệt, sự nghèo đói của đại bộ phận dân chúng được giải thích bằng sự bất công trong sở hữu TLSX, bọn địa chủ, bọn tư sản chiếm/có quyền sở hữu tư liệu sản xuất, trong khi giai cấp vô sản chỉ sở hữu sức lao động và buộc phải bán sức lao động để sống, dẫn đến tình trạng giới chủ (chủ TLSX) bóc lột người làm (giai cấp vô sản).
Mặc dù Việt Nam còn rất nghèo nàn và lạc hậu nhưng những nhà tiền bối cách mạng (điển hình là Nguyễn Ái Quốc) đã tìm mọi cách tiếp cận những tài liệu của thế giới, đặc biệt là các tác phẩm Các Mác và Lê-nin về vai trò của tư hữu tư liệu sản xuất trong xã hội tư bản, chỉ rõ tư hữu TLSX có thể dẫn đến sự phân chia giai cấp, phân chia tầng lớp giàu nghèo cũng như dẫn đến bất bình đẳng trong việc sử dụng và hưởng thụ các nguồn lực kinh tế, cũng như trong kết quả sản xuất.
Những ưu điểm của sở hữu công cộng và vai trò của nó trong CNXH cũng đã được truyền bá trong Đảng viên, tổ chức Đảng lúc bấy giờ (kể cả trong các nhà tù của thực dân, phong kiến). Qua đó chỉ ra mục tiêu xây dựng hình thức sở hữu TLSX mới, đó là chế độ sở hữu công cộng về TLSX và đề xuất thực hiện trong quá trình xây dựng CNXH/CNCS. Sở hữu công cộng được hiểu là tư liệu sản xuất thuộc về toàn dân, được nhà nước quản lý nhằm phân phối lại của cải, xóa bỏ sự chiếm hữu tư nhân và bóc lột lao động. Những thành tựu của Liên Xô, của các nước XHCN khác trong thời kỳ này (nhất là sau khi kết thúc Thế chiến thứ II đã hình thành hệ thống các nước XHCN Liên Xô và Đông Âu), đã là minh chứng cho sự tồn tại khuynh hướng thiết lập con đường phát triển đất nước theo CNXH.
Quả thật, tương lai của con đường tiến lên CNXH, xóa bỏ tư hữu về TLSX đã được Đảng ta sớm nhận ra nhưng rõ ràng, đạt được điều này không hề dễ dàng và những gì xảy ra sau này đã chứng minh cho những khó khăn không dễ vượt qua khi từ bỏ chế độ tư hữu TLSX chuyển sang chế độ sở hữu công cộng về TLSX. Những nông trang, nông trại, hợp tác xã (HTX) đã được xây dựng ở các nước XHCN (đặc trưng là Liên Xô), mọi người cùng góp công, góp của, góp sức lao động để làm ra của cải vật chất và được phân phối lại một cách công bằng, công minh. Giá cả những mặt hàng cơ bản, thiết yếu cho cuộc sống (như bánh mì, sữa) rất rẻ và rất ổn định trong thời gian dài và tinh thần của nhân dân rất phấn khởi. Điều này đã và đang là mơ ước của những người Đảng viên Việt Nam, định hướng cho họ xây dựng đất nước trong tương lai
Giai đoạn trước Đổi mới (từ năm 1954 đến trước năm 1986). Giai đoạn này có thể chia thành 2 khoảng thời gian: Giai đoạn đầu: Xây dựng XHCN ở miền Bắc và chiến đấu giải phóng Miền Nam (1954-1975) và Giai đoạn sau: xây dựng CNXH trên phạm vi cả nước.
Trong Giai đoạn đầu, giai đoạn mà Đảng đã lãnh đạo giành lại một nửa đất nước khỏi sự thống trị của thực dân phong kến để xây dựng chế độ mới mà Bác Hồ định dạng chính: Dân chủ, Cộng hòa, Độc lập, Tự do, Hạnh phúc chưa có định dạng XHCN. Mặc dù vậy, một trong những thay đổi mà Đảng lựa chọn và quyết liệt thay đổi, đó là thay chế độ tư hữu tư nhân về TLSX thành chế độ công hữu, chế độ tập thể về TLSX nhưng quả thật chưa có mô hình nào, chưa có những kinh nghiệm thật sự hoàn hảo về chuyển đổi thành công sang chế độ công hữu về TLSX trên Thế giới để học hỏi. Tuy nhiên, trong kháng chiến, đã có sự thành công của mô hình sản xuất tổ đổi công ở vùng giải phóng, khi mà một số TLSX như lao động, dụng cụ sản xuất của các hộ sản xuất được hoán đổi sử dụng một cách hợp lý làm tăng được hiệu quả sản xuất. Có lẽ đây là mô hình gợi mở cho mô hình hợp tác xã (HTX) sản xuất nông nghiệp ở nông thôn và hợp tác sản xuất, cung cấp dịch vụ ở thành phố.
Là người được sống trong thời gian HTX nông nghiệp thịnh hành ở miền Bắc, lúc còn là HTX cấp thấp, chỉ mới ở cấp một hoặc vài thôn, chưa phải cấp xã, tôi nhận thấy đây là mô hình có những ưu điểm rất lớn, nhất là trong giai đoạn chiến tranh. Xin không viện dẫn văn bản về HTX nông nghiệp thời gian này ở miền Bắc mà chỉ mô tả lại những gì mà tôi biết, nhận thức được qua trực tiếp tham gia. Trước hết, việc vào HTX là tự nguyện nhưng người nông dân đã được phổ biến rất rõ về quy chế HTX, những quyền lợi và trách nhiệm của từng xã viên sẽ được nhận hoặc phải thực hiện. Về nguyên tắc, thành viên HTX là các xã viên nhưng thật ra vẫn là hộ gia đình vì một gia đình có thể có nhiều xã viên và TLSX trước khi vào HTX đều là của gia đình. Các tư liệu sản xuất mà một gia đình tự nguyện góp vào sẽ được HTX ghi nhận và được coi là góp vốn để sau này chia sản phẩm. Tư liệu chính là ruộng đất, trâu bò, cày bừa và được đánh giá về “chất lượng” tuy chỉ mang tính tương đối (trâu, đất loại 1, loại 2,…) rồi sau đó lại giao lại cho hộ gia đình cất giữ, chăm sóc, sửa chữa và hàng năm lại phải định giá lại.
Việc sử dụng TLSX cũng ưu tiên chính cho các xã viên thuộc hộ gia đình đang giữ nhưng khi cần, các xã viên khác vẫn có thể dùng trâu của gia đình trông giữ để đi cày, bừa, làm đất theo yêu cầu của HTX. Gần như buổi tối nào các đội/tổ của HTX đều họp và không ai bảo ai, ít nhất mỗi hộ phải có 1 xã viên đi họp để bình/báo, xác định công/điểm (tôi nhớ một công gồm 10 điểm). Thật ra cũng có barem/công thức tính công điểm nhưng vẫn cần thống nhất của cả đội để thư ký đội ghi vào sổ điểm của mỗi gia đình. Chẳng hạn mẹ tôi đi cày ở vùng đất nào đấy với diện tích cày là 3 sào (Bắc bộ) chẳng hạn được tính 1,5 công, tôi về tham gia nhổ mạ (tính bằng con/đon), mọi người hỏi tôi nhổ được bao nhiêu đon nhưng tôi không nhớ chính xác, chỉ nói khoảng 65 đon và mọi người đều tính cho tôi làm được 1 công.
Quả thật, cuộc họp kiểu này đã thay đổi bộ mặt nông thôn và làm cho các xã viên có điều kiện trao đổi nhau, được quyền nói tiếng nói của mình nên khá vui vẻ. Chỉ khi nào có người quá đáng cãi chày cãi cối thì mới có vẻ căng thẳng nhưng rồi cũng qua mau. Cuối 1 vụ, thư ký sẽ cộng điểm làm của từng hộ gia đình, tính thêm các tư liệu sản xuất đã nộp trước đây, tính thêm lượng phân bón (phân trâu bò và phân chuồng/lợn) để ra con số tổng công điểm và dán công khai để mọi người có thể kiểm tra. Các gia đình cũng có sổ riêng của mình và để minh bạch, thư ký đội phải xác nhận công điểm từng ngày cho từng hộ gia đình. Sau đó, khi thu hoạch xong sẽ thống kê sản lượng thu được, sau khi trừ đi các khoản phải đóng góp và chi phí chung sẽ được chia cho tổng số công điểm toàn HTX, ví dụ mỗi công được 1kg thóc khô, vậy gia đình nào có số công điểm 500 sẽ nhận được 5 tạ lúa.
Rõ ràng, đây là hình thức sản xuất được nghiên cứu kỹ lưỡng, có sử dụng các yếu điều hành sản xuất và tính toán chia lợi ích của các cơ sở công nghiệp. Hơn nữa, với hình thức này, đã giúp chính quyền nắm rất chắc tình hình kinh tế các hộ gia đình nên đã có những chính sách giúp đỡ rất hiệu quả. Một mặt, do công việc được đội trưởng phân công nên nhiều nhà thiếu lao động chính (do con đi bộ đội, thanh niên xung phong, thoát li,…) không phải lo lắng. Mặt khác những người ra trận rất yên tâm là ở quê hương đã có HTX lo cho cuộc sống cha mẹ, gia đình chu đáo. Đây là điều kiện chính yếu để huy động nhân lực, vật lực cho tiền tuyến giai đoạn kháng chiến chống Mỹ với khẩu hiệu “thóc không thiếu một cân, quân không thiếu một người”.
Trong khoảng thời gian khoảng 5 tháng, từ tháng 7 đến tháng 11 năm 1971, năm tôi tốt nghiệp đại học, về chờ công tác ở quê, tôi đã lao động như một xã viên thực thụ, tham gia tất cả phong trào của thanh niên nên có hiểu biết ít nhiều về HTX cấp thấp (cấp thôn hoặc liên thôn), đó là:
Hợp tác xã là mô hình được xây dựng rất công phu mà Đảng, Chính phủ và đích thân Bác Hồ đã nghiên cứu đề xuất và thực hiện. Đây rõ ràng đi đúng hướng XHCN vì đã chuyển đổi dược chế độ tư hữu các TLSX nông nghiệp sang chế độ sở hữu tập thể, cụ thể là HTX.
Hoạt động của HTX đã làm thay đổi bộ mặt nông thôn, tạo điều kiện để người nông dân cố gắng học hỏi, cả về văn hóa (để kiểm tra được công điểm của mình), cả kiến thức sản xuất nông nghiệp mới, đặc biệt là phong trào làm thủy lợi với hệ thống bờ vùng, bờ thửa đưa nước về ruộng một cách chủ động; hay biết cách chế biến phân (phân chuồng, phân xanh, phân từ bèo hoa dâu,…); biết cách cấy dày, cấy thẳng hàng và chăm sóc theo lịch nông vụ (do Chính quyền cung cấp).

Bộ mặt nông thôn đã có những thay đổi nhất định, đường xá được nhân dân cùng chính quyền cố gắng làm mới, chỉnh sửa tốt hơn, các hủ tục được dần dỡ bỏ, các em nhỏ được cắp sách tới trường (dù trường lớp còn nhiều tạm bợ, thiếu sách vở), ánh sáng tri thức được chiếu rọi thông qua các phong trào của các tầng lớp phụ nữ (ba đảm đang) của thanh niên (ba sẵn sàng) và việc từng bước giúp nông dân thoát mù chữ. Quả thật, ngày ấy tôi đã thấy được khí thế của những người nông dân trên mặt trận sản xuất nông nghiệp, rất mạnh mẽ, có ý chí vươn lên và thật sự đáp ứng cả nhiệm vụ chiến đấu và cung cấp nguồn lực cho cuộc kháng chiến chống Mỹ ở cả hai miền Nam, Bắc.
Năm 1971, lúc ấy, đế quốc Mỹ đang tăng cường đánh phá miền Bắc, quê tôi, một vùng trung du thuộc tỉnh Thanh Hóa cũng bị đánh phá ác liệt, lúc ở nhà tôi đã từng cùng các bạn thanh niên cáng một chị bị trúng bom Mỹ cách nhà tôi chỉ khoảng vài trăm mét, làm bị thương lên trạm xá của một đơn vị bộ đội cách đó vài km. Năm 1972, mấy xã (cách quê tôi chỉ vài km) đã bị một vệt bom B52 hủy diệt, tang thương lắm. Khi nghe tin, tôi vội vàng đi xe đạp từ khu sơ tán ở Thái Nguyên về đến Thành phố Thanh Hóa mới biết làng tôi, gia đình tôi an toàn, thật may mắn. Trong hoàn cảnh như vậy, HTX là một cơ chế giúp chính quyền điều phối, thu hút nguồn lực để giải quyết tốt nhất những vấn đề phát sinh.
Có lẽ khi còn ở mức HTX cấp thấp, hoạt động của HTX có vẻ trơn tru, không/chưa nảy sinh những vấn đề lớn. Bởi vì khi ấy, đơn vị chi phối các hoạt động chỉ xung quanh đội sản xuất (thường trong phạm vi một thôn) mà phần lớn xã viên là bà con với nhau, là hàng xóm gần cận nên cán bộ HTX và xã viên không mấy xa cách và không thể có những đối xử quá tệ với nhau vì bị công đồng lên án mạnh mẽ. Có lẽ bức xúc nhất vẫn là tính công bằng của việc phân công lao động, tính công cho lãnh đạo HTX, việc phân phối sản phẩm cuối cùng có công bằng, minh bạch không? và cũng đã có nơi, có lúc nhiều vụ “tham nhũng” đã xảy ra làm cho các xã viên không yên tâm. Tuy nhiên, điều đó cũng là tất yếu, vì lòng người khó đo và vẫn có những kẻ cơ hội tham gia HTX nhằm thu lợi bất chính.
Tôi cũng đã nhiều lúc tự hỏi, với cơ chế HTX khá tốt, với người dân cần cù lao động và với sự hỗ trợ đưa khoa học kỹ thuật vào mà tại sao sản lượng lương thực thu được vẫn không cao?. Mãi sau này, khi xâu kết các sự kiện và đọc nhiều tư liệu tôi cũng đã tự mình có những giải thích, chỉ ra một số nguyên nhân. Theo tôi nguyên nhân cơ bản nhất là nông nghiệp khi ấy còn phụ thuộc rất nhiều vào thời tiết, vào “trời”, điều mà đến nay vẫn chưa hoàn toàn chủ động. Hai nữa là sâu bệnh, với nhiều loại sâu bệnh, to có, nhỏ có, có loại phát hiện được, có loại khó nhận biết nên khi bị chúng tàn phá thì thật khó đỡ. Lúc ấy, cả trẻ em (lứa tuổi thiếu nhi) cũng tham gia bắt sâu như nhà thơ Trần Đăng Khoa đã viết trong bài thơ Hạt gạo làng ta. Sau này, khi chúng ta nhập được thuốc trừ sâu thì mới từng bước đẩy lùi sâu bệnh, mùa vụ được chắc chắn hơn. Một yếu kém nữa là chúng ta vẫn phải sử dụng những giống lúa bản địa với năng suất thấp, thời gian sinh trưởng dài, tính kháng sâu bệnh kém nên nếu gặp được điều kiện tốt, mưa thuận, gió hòa, được mùa chăng nữa thì năng suất vẫn ở mức thấp. Rồi nữa, phân bón chủ yếu là phân hữu cơ nhưng cũng không đủ để bón ruộng nên năng suất rất bấp bênh.
Hầu như những hạn chế, yếu kém kể trên đều do chúng ta chưa có điều kiện, chưa đủ tiềm lực KHCN để phục vụ HTX. Mặt khác Việt Nam bị Mỹ và các quốc gia thân Mỹ cấm vận quyết liệt đến mức Việt Nam không có sự hỗ trợ, cung cấp các vật tư nông nghiệp, không có chuyển giao công nghệ vào Việt Nam. Mặt khác, trên Thế giới lúc ấy cũng chưa có những công nghệ hiện đại áp dụng trong nông nghiệp nên nhìn chung năng suất lương thực, đặc biệt là năng suất lúa nước và các sản phẩm vùng nhiệt đới cũng còn ở mức thấp. Nói như vậy để thấy, việc sản lượng lương thực thấp thời kỳ này không thể quy hết cho HTX như một số thế lực phản động từng đăng tải.
Theo tôi, một số hạn chế về quản lý hoạt động của HTX chủ yếu xuất hiện khi chúng ta mở rộng từ quy mô cấp thấp (thôn/liên thôn) lên HTX cấp cao (toàn xã). Trước đây tôi cũng không thể giải thích vì sao xã viên không hăng say lao động, nhiều người tỏ ra chống đối, không hào hứng với công việc của HTX.
Những điều này được phản ánh khá rõ trong bộ phim Bí thư tỉnh ủy với cảnh xã viên trễ nải khi ra đồng, cảnh tụm nhau bàn tán, cảnh một số kẻ kích động mọi người chống đối,… là có thật nhưng ít ai chỉ rõ đâu là nguyên nhân. Sau này khi nghiên cứu về các nguyên lý hoạt động kinh tế, tôi phát hiện ra rằng, nếu quy mô tổ đội công, các thành viên giúp đỡ lẫn nhau khi cần thiết, có lúc người/nhà này sang cấy cho người/nhà kia nhưng lúc khác lại giúp nhau cày bừa để kịp thời vụ. Đến HTX cấp thấp, cấp quản lý trực tiếp là đội sản xuất có thể nắm rất rõ nguồn lực xã viên, nguồn đất đai, trâu bò,… nên có thể đưa ra kế hoạch sát thực tế. Bà con xã viên trong đội biết nhau cả nên cũng thông cảm giúp đỡ lẫn nhau nên ít mâu thuẩn và cũng dễ giải quyết khi phát sinh.
Đến HTX cấp cao, một hạn chế rõ nhất là vấn đề quản lý, điều hành trên phạm vi lớn, rất khó đạt đồng thuận, mâu thuẫn về điều hành công việc đã xảy ra khi có sự tham gia của nhiều đội làm xã viên thiếu tin tưởng. Đặc biệt, ngay cùng HTX nhưng đồng đất đội này tốt hơn đội kia, trình độ xã viên cũng có chênh lệch nhưng liệu chia sản phẩm có tính đến hay không luôn được xã viên quan tâm và đa số họ cho rằng không thể có công bằng trong phạm vi HTX cấp cao.
Và vì vậy, không còn thiết tha với HTX nữa. Chính quyền cũng đã có cách thức rất hợp lý là chia cho các hộ gia đình một ít ruộng đất gọi là đất phần trăm, (hay đất 5%) đó là loại đất nông nghiệp thuộc quỹ đất công ích của xã, phường, thị trấn, được trích từ quỹ đất nông nghiệp của địa phương (không quá 5%) để sử dụng vào mục đích công ích hoặc giao cho hộ dân thuê để sản xuất nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản. Tên gọi này xuất phát từ việc trước đây, các hợp tác xã nông nghiệp hoặc các hộ dân đã giữ lại một phần tỷ lệ phần trăm (thường là 5%) đất để các gia đình tự chủ phát triển kinh tế. Trên mảnh đất này chủ hộ toàn quyền sản xuất và được hưởng thành quả nên họ giành nhiều công sức, đầu tư kỹ hơn (làm đất, bón phân, tưới nước,…) nên năng suất cao hơn hẳn năng suất chung toàn HTX. Và thực sự những gì thu được từ mảnh đất này đã giúp cải thiện đáng kể đời sống các hộ nông dân.
Vì hiện nay, tài liệu về giai đoạn đầu (1954 – 1975) có rất ít, nhất là tài liệu về sự xây dựng, vận hành và hoạt động của HTX ở Miền Bắc nên chúng tôi đã cố hồi tưởng viết lại và trình bày hơi dài, mong được thứ lỗi.
Giai đoạn sau (1975-1986), là giai đoạn cả nước tiến lên XHCN với rất nhiều thay đổi lớn lao. Đất nước đã về một mối, tên Đảng, tên nước đã có thay đổi nhấn mạnh chủ trương tiến lên CNXH dưới sự lãnh đạo của một Đảng là Đảng Công sản Việt Nam. Với định hướng này thì:
Kinh tế tư nhân (bao gồm kinh tế cá thể, tiểu chủ và tư bản tư nhân) bị xem là đối tượng cần cải tạo, từng bước bị hạn chế và thay thế bởi kinh tế quốc doanh và kinh tế tập thể.
Đường lối phát triển kinh tế thời kỳ này vẫn nhấn mạnh vai trò của sở hữu công cộng, còn sở hữu tư nhân bị coi là "lạc hậu", "không phù hợp" với CNXH.
Tuy nhiên, một thực tế đặt ra rất khó giải quyết lúc bấy giờ là điều kiện nông thôn và thành thị ở Miền Nam rất khác biệt so với Miền Bắc. Ngay con người, lối sống, hoạt động kinh tế cũng rất đa dạng và có khác biệt lớn. Ở Miền Nam, đất đai nông nghiệp có diện tích lớn, nhất là vùng Nam bộ, nhiều nơi ruộng thẳng cánh cò bay và số hộ có diện tích lớn (vượt xa diện tích mà Miền Bắc trước đây coi là địa chủ) cũng rất lớn. Hoạt động sản xuất nông nghiệp cũng đã có xu hướng kinh tế thị trường, sản xuất hàng hóa, không phải tự cung tự cấp như ở Miền Bắc. Ở thành thị cũng đã hình thành hệ thống sản xuất theo hướng kinh tế thị trường, sản xuất hàng hóa với sản phẩm, đặc biệt là sản phẩm, hàng hóa tiêu dùng khá đa dạng, phần nào đã có nề nếp. Tuy nhiên, vẫn một số vấn đề rất nan giải là điện năng hạn chế, chỉ có một số tổ hợp phát điện ở thành phố lớn, đông dân.
Ngoài ra một số nguyên liệu nhập khẩu không còn được cung cấp nên nhiều cơ sở sản xuất gặp khó khăn. Mặt khác, đã có lúc Miền Nam đã xuất khẩu khá nhiều sản phẩm ra nước ngoài nhưng nay thị trường này hầu như bị đóng cửa. Thị trường trong nước bị rào cản pháp lý của nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung (KTKKHTT) ngăn cản, hàng hóa không tự do lưu thông mà do Nhà nước phân phối với năng lực rất hạn chế, dẫn đến tình trạng ngăn sông cấm chợ, hàng hóa sản xuất ở Thành phố Hồ Chí Minh không tự đem bán ở Đồng bằng Nam bộ (ĐBNB) và lúa gạo ở ĐBNB không được tự do vận chuyển về các vùng đô thị.
Quả thật, đây là lúc thấy rõ và có thể coi là có sự va đập khủng khiếp giữa một bên là nền KTKHHTT đã được thực hiện khá dài ở Miền Bắc và nền Kinh tế thị trường (KTTT) vốn có ở Miền Nam từ lâu. Sự va đập này đã làm cho lãnh đạo Đảng và Nhà nước thấy phải nghiên cứu thêm về lý luận trên cơ sở thực tế: dân vẫn đói, sản xuất bị trì trệ, mô hình HTX Miền Bắc đã xuất hiện nhiều bất cập và hầu như không thể áp dụng ở Miền Nam. Một thực tế rõ nét hơn là Miền Nam có nền KTTT với quy mô sản xuất khá lớn, đa dạng về hàng hóa sản xuất và tất nhiên các cơ sở sản xuất cả ở nông thôn và thành thị đều là cơ sở KTTN.
Một thực tế khá phũ phàng cần phải nhận thức rõ, đó là đất nước vừa thống nhất nhưng phải đối diện với những khó khăn rất khắc nghiệt vô cùng lớn, có thể ví với khó khăn mà Bác Hồ gọi là “giặc” khi mới giành chính quyền năm 1945: Giặc đói; Giặc dốt; Giặc ngoại xâm. Giai đoạn này dân vẫn còn “đói”, Nhà nước không lo đủ lương thực cho dân, phải ăn cả bo bo, một loại hạt rất khó chế biến, khó ăn. “Dốt” ở đây phải hiểu theo nghĩa rộng (''dốt: 1. là kém về trí lực, chậm hiểu, chậm tiếp thu, trái với thông minh; 2. là không hiểu biết gì hoặc hiểu biết rất ít" còn ''dốt đặc là dốt hoàn toàn, không biết tí gì” theo từ điển tiếng Việt), có một phần là yếu kém lý luận về con đường phát triển, trong đó có việc chuyển đổi tư hữu thành công hữu và sở hữu tập thể TLSX. Bác Hồ từng nói: “Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu” với từ dốt phải được hiểu theo nghĩa rộng. Thời gian này chúng ta phải chiến đấu bảo vệ biên cương. Ba loại giặc trong giai đoạn này không những không kém phần nguy hiểm mà có phần nguy hiểm hơn.
May mắn, Đảng ta có những nhà lãnh đạo đi lên từ thực tiễn sinh động, điển hình trong thời gian này là các đồng chí Nguyễn Văn Linh, một cán bộ người Miền Bắc (quê Hưng Yên) nhưng được cử vào Nam công tác một thời gian dài và đồng chí Võ Văn Kiệt, người Miền Nam. Hai đồng chí đã từng nắm cương vị cao trong lãnh đạo chiến đấu đánh đuổi đế quốc Mỹ và đánh đổ ngụy quân, ngụy quyền và đồng thời nắm chắc tình hình hoạt động kinh tế, cách thức vận hành nền kinh tế Miền Nam trước giải phóng. Một số hoạt đông “phá rào” thời kỳ này ở Miền Nam nói chung và Thành phố Hồ Chí Minh nói riêng đã có những kết quả nhìn thấy được, là minh chứng cho việc cần thiết thay đổi một số chính sách mang tính “cởi trói” để các cơ sở tư nhân được tiếp tục sản xuất, tham gia lưu thông và định giá hàng hóa theo thị trường. Những đề nghị của các đồng chí đã phần nào trùng khớp với suy nghĩ của các đồng chí lãnh đạo Đảng cao nhất là Tổng Bí thư Lê Duẩn và Chủ tịch Quốc hội, Tổng bí thư Trường Chinh và được đưa ra bàn luận để xây dựng chính sách “Đổi mới”, trong đó chủ yếu là đổi mới tư duy kinh tế và đưa vào văn kiện Đại hội lần thứ VI của Đảng năm 1986;

Giai đoạn đầu Đổi mới và khẳng định vai trò KTTN, từ Đại hội VI – năm 1986 đến năm 2011.
Xin dẫn ra đây một vài dấu mốc liên quan đến nhận thức về KTTN trong các văn bản của Đảng:
Đại hội VI (1986) được coi là Bước ngoặt tư duy trong nhìn nhận lại vai trò của KTTN. Lần đầu tiên công nhận kinh tế cá thể, tiểu chủ là thành phần kinh tế hiện hữu lâu dài, có vai trò tích cực trong phát triển sản xuất và đời sống nhân dân. Tuy chưa gọi rõ là KTTN, nhưng đây là giai đoạn mở đường cho nhận thức cởi mở hơn về thành phần kinh tế này.
Đến năm 1991 với Cương lĩnh năm 1991 (Đại hội VII) của Đảng đã ghi nhận 5 thành phần kinh tế, trong đó có "kinh tế cá thể, tiểu chủ", và "kinh tế tư bản tư nhân", bước đầu xác lập vị trí trong cơ cấu nền kinh tế nhiều thành phần.
Đến Đại hội IX (2001): Bắt đầu nhìn nhận KTTN là một trong những động lực của nền kinh tế.
Đại hội X (2006): Khẳng định cần khuyến khích phát triển KTTN, đồng thời tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh để KTTN có chỗ đứng bình đẳng trong nền kinh tế đất nước.
Giai đoạn này thực sự là giai đoạn mà KTTN được gọi tên, được ghi nhận trong các văn kiện của Đảng và thậm chí không chỉ là KTTN mà Kinh tế Tư bản Tư nhân cũng được công nhận là một thành phần của nền kinh tế chung. Vấn đề là, vai trò của KTTN đã được ghi nhận và được cùng các thành phần kinh tế khác tạo nên hoạt động kinh tế sôi động, sản xuất nhiều hơn, đa dạng hơn sản phẩm, cung cấp được nhiều dịch vụ vừa phong phú về thể loại vừa khẳng định bản sắc dân tộc.
Tuy nhiên, chưa có nhiều lý giải xem có gì thay đổi trong vấn đề sở hữu TLSX, trong khi chúng ta kiên định công hữu và sở hữu tập thể TLSX, liệu điều ấy có làm khó, có hạn chế phát triển KTTN hay không. Viết đến đây, chúng tôi nhớ lại một chi tiết khi viết giáo trình Kinh tế môi trường (được Nhà xuất bản Giáo dục in lần đầu năm 2006), đó là có nên đưa vào một số đoạn về vai trò của sở hữu tư nhân trong nền kinh tế thị trường. Theo đó, nền kinh tế thị trường dựa trên quyền sở hữu tư nhân như một nguyên tắc cơ bản, cho phép cá nhân và doanh nghiệp sở hữu, sử dụng và trao đổi tài nguyên và hàng hóa. Quyền sở hữu này khuyến khích cá nhân đầu tư và đổi mới, vì họ có thể hưởng lợi từ sức lao động và vốn của mình, điều này thúc đẩy hoạt động kinh tế thông qua cạnh tranh và cung cầu.
Adam Smith (1723 - 1790), một trong những nhà khoa học tiêu biểu cho trường phái kinh tế này đã đưa ra học thuyết về bàn tay vô hình. Theo Adam Smith, thị trường là nơi tốt nhất để thẩm định hàng hóa xã hội. Thị trường tác động đến lợi ích xã hội, đến hành vi cá nhân đối với lợi ích chung, như là có bàn tay vô hình điều khiển. Trong trường hợp lý tưởng, khi người sản xuất và người tiêu dùng bình đẳng về mặt kinh tế, thị trường có thể phân bổ tài nguyên cho người sử dụng tốt nhất.
Cuối cùng, qua bàn luận trong nhóm soạn thảo chúng tôi đưa vào ý của nhà kinh tế học nổi tiếng, đại diện cho mô hình kinh tế cổ điển Adam Smith. Sau này, khi giảng dạy, sinh viên đã góp sức tìm ra một ví dụ phản ánh hiện thực của Việt Nam, đó là, khi đưa đất đai về cho người nghèo, không đủ nguồn lực canh tác thì họ chỉ có thể trồng loại cây cho năng suất thấp (khoai lang chẳng hạn) và nếu quyền sử dụng đất không được chuyển nhượng dưới mọi hình thức thì có thể chúng chỉ được trồng khoai nhưng nếu được chuyển nhượng thì nhiều người khác có thể chuyển sang trồng cây cho hiệu quả kinh tế cao hơn (như rau, lúa, hoa quả,…) và quá trình chuyển nhượng này sẽ diễn ra rất nhẹ nhàng trong kinh tế thị trường. Điều này có thể giải thích trường hợp chuyển giao đất cho tá điền vùng Đồng bằng Nam bộ sau giải phóng nhưng họ không đủ sức canh tác (vì quá nghèo) nên quay đi quay lại quyền sử dụng đất lại quay về với một số điền chủ trước đây. Đối với đất đai, TLSX quan trọng thì vấn đề xác định địa tô khi sử dụng được các nhà kinh tế rất quan tâm, đưa ra cách tính toán và dựa vào đó có thể giải thích thêm cho nguyên lý của Adam Smith. Rất tiếc là vấn đề tính toán địa tô, vấn đề định giá tài nguyên/tài sản thiên nhiên chưa được áp dụng nhiều ở Việt Nam dẫn đến việc sử dụng đất, tài nguyên chưa thật sự hiệu quả.
Đây là gợi ý cho việc thay thế quyền sở hữu tư nhân sang quyền sử dụng TLSX trong thời gian đủ dài và quyền này có thể chuyển nhượng. Khi đó, phần nào vẫn giữ quyền công hữu TLSX nhưng người sử dụng được toàn quyền sử dụng trong thời gian dài và có thể chuyển nhượng và hiệu quả mà Adam Smith đề cập được thực hiện. Hiện tại, thời gian cho thuê đất phụ thuộc vào mục đích sử dụng với quy định chung là không quá 50 năm. Tuy nhiên, các dự án đầu tư có thể có thời hạn dài hơn, lên đến 70 năm. Với đất nông nghiệp, thời hạn cho thuê ban đầu là 50 năm, và có thể được xem xét gia hạn tiếp tối đa 50 năm nữa khi hết hạn. Đây là bước tiến mang tính đột phá có thể giữ quyền công hữu về TLSX nhưng vẫn sử dụng chúng một cách hiệu quả.
Như vậy, với sự ghi nhận/công nhận KTTN và chính sách mới về sử dụng TLSX, đặc trưng nhất là đất đai (cả giao quyền sử dụng, thời hạn sử dụng đủ dài, có thể chế chuyển nhượng,…) việc sử dụng TLSX đã bắt đầu cho hiệu quả cao.
Giai đoạn phát triển và hội nhập (2011 đến nay). Đây là giai đoạn mà Đảng đưa ra nhiều chính sách khuyến khích, tạo điều kiện để KTTN phát triển, đó là:
Cương lĩnh bổ sung năm 2011: Nêu rõ quan điểm “các thành phần kinh tế đều bình đẳng trước pháp luật, cùng phát triển lâu dài, hợp tác và cạnh tranh lành mạnh”.
Đại hội XII (2016): Lần đầu tiên khẳng định: “Kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng của nền kinh tế.”
Nghị quyết số 10-NQ/TW (2017): Về phát triển kinh tế tư nhân trở thành một động lực quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN. Nêu rõ định hướng phát triển, hoàn thiện thể chế, tạo môi trường đầu tư, đổi mới sáng tạo, hỗ trợ doanh nghiệp tư nhân lớn mạnh.
Đại hội XIII (2021): Tiếp tục khẳng định kinh tế tư nhân là một trong những động lực quan trọng, cần tạo điều kiện thuận lợi để khu vực này phát triển nhanh, bền vững, bảo đảm cạnh tranh bình đẳng với các thành phần khác.
Và đặc biệt, trong Nghị quyết 68, Đảng đã đưa ra quan điểm chỉ đạo với 5 điểm không chỉ nhấn mạnh vai trò của KTTN mà còn đề cao khả năng đóng góp của KTTN trong sự phát triển chung của đất nước. Mọi người có thể đọc kỹ nguyên văn trong NQ68 nhưng cũng xin nêu vài ý quan trọng, đó là:
“Trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế quốc gia,…
Cùng với kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể, kinh tế tư nhân giữ vai trò nòng cốt để xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ, tự lực, tự cường gắn với hội nhập quốc tế sâu rộng,…
Phát triển kinh tế tư nhân nhanh, bền vững, hiệu quả, chất lượng cao vừa là nhiệm vụ trọng tâm, cấp bách, vừa mang tính chiến lược lâu dài,…
Xóa bỏ triệt để nhận thức, tư tưởng, quan niệm, thái độ định kiến về kinh tế tư nhân Việt Nam; đánh giá đúng vai trò quan trọng của kinh tế tư nhân đối với phát triển đất nước,…
Tạo môi trường kinh doanh thông thoáng, minh bạch, ổn định, an toàn, dễ thực thi, chi phí thấp, đạt chuẩn quốc tế, bảo đảm khả năng cạnh tranh khu vực, toàn cầu….”
Có lẽ Xóa bỏ triệt đểnhận thức, tư tưởng, quan niệm, thái độ định kiến về kinh tế tư nhân Việt Nam là điều mà nhiều người (trong đó có tôi) không rõ hết đó là những định kiến gì và định kiến của ai, xuất hiện ở đâu, khi nào và làm thế nào để xóa bỏ chúng. Chúng tôi cũng xin đề cập nội dung này trong phần sau.
Nghị quyết 68 đã đưa ra các Nhiệm vụ, Giải pháp hết sức cụ thể, tập trung tạo điều kiện tốt nhất để các doanh nghiệp KTTN: Được bảo đảm và bảo vệ hữu hiệu quyền sở hữu, quyền tài sản, quyền tự do kinh doanh, quyền cạnh tranh bình đẳng; Được tiếp cận các nguồn lực về đất đai, vốn, nhân lực chất lượng cao; Thúc đẩy khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, kinh doanh hiệu quả, bền vững trong KTTN; Tăng cường kết nối giữa các doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp tư nhân với doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp FDI; Hình thành và phát triển nhanh các doanh nghiệp lớn và vừa, các tập đoàn kinh tế tư nhân tầm cỡ khu vực và toàn cầu,…
Và với việc huy động nhiều cơ quan Đảng ở cấp cao nhất vào cuộc thực hiện thì chắc chắn Nghị quyết 68 sẽ được thực thi cho hiệu quả cao góp phần đưa đất nước đạt được tầm cao mới, vị thế mới trong dịp kỷ niệm 100 năm Thành lập Đảng (2030), 100 năm thành lập Nước (2045) và nhân dân được sống trong môi trường no đủ, yên bình, hạnh phúc, văn hóa xã hội tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.
Còn tiếp...
Hoàng Xuân Cơ
Hội Kinh tế Môi trường Việt Nam




























