Kiểm soát lạm phát, hỗ trợ mục tiêu tăng trưởng
Từ năm 2015 đến nay, Việt Nam đã thành công trong việc kiểm soát lạm phát ở mức dưới 4%. Việc tiếp tục bảo vệ thành quả phát triển kinh tế-xã hội, kiểm soát tốt lạm phát theo mục tiêu đề ra trong năm 2026 có ý nghĩa rất quan trọng trong nhiệm vụ giữ ổn định vĩ mô, hỗ trợ cho mục tiêu tăng trưởng 2 con số.

Người tiêu dùng mua sắm hàng hóa tại siêu thị AEON Mall Long Biên, Hà Nội. (Ảnh ĐĂNG ANH)
Từ năm 2015 đến nay, Việt Nam đã thành công trong việc kiểm soát lạm phát ở mức dưới 4%. Việc tiếp tục bảo vệ thành quả phát triển kinh tế-xã hội, kiểm soát tốt lạm phát theo mục tiêu đề ra trong năm 2026 có ý nghĩa rất quan trọng trong nhiệm vụ giữ ổn định vĩ mô, hỗ trợ cho mục tiêu tăng trưởng 2 con số.
Tại Nghị quyết số 244/2025/QH15 về kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội năm 2026, Quốc hội quyết nghị mục tiêu tổng quát là ưu tiên thúc đẩy tăng trưởng trên cơ sở giữ ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, bảo đảm các cân đối lớn của nền kinh tế. Trên cơ sở đó, Quốc hội giao chỉ tiêu tốc độ tăng tổng sản phẩm trong nước (GDP) phấn đấu từ 10% trở lên; tốc độ tăng CPI bình quân khoảng 4,5%.
Dự báo 3 kịch bản lạm phát
Các chuyên gia kinh tế nhận định, đây là nhiệm vụ rất thách thức vì để đạt mục tiêu tăng trưởng cao, lạm phát thấp trong bối cảnh kinh tế toàn cầu được dự báo tiếp tục có những diễn biến bất định, khó lường đặt ra rất nhiều sức ép cho công tác điều hành giá, kiểm soát lạm phát. Theo đó, công tác quản lý, điều hành giá năm 2026 cần bảo đảm “mục tiêu kép”, vừa tiếp tục kiểm soát tốt lạm phát, vừa hỗ trợ tháo gỡ khó khăn cho hoạt động sản xuất, kinh doanh và đời sống của người dân để duy trì đà phục hồi của nền kinh tế.
Nhiều dự báo cho thấy về cơ bản, áp lực lạm phát trong năm 2026 sẽ cao hơn so với năm 2025 nhưng ít khả năng xảy ra các cú sốc lớn, tốc độ tăng CPI hằng tháng khoảng 0,3%/ tháng; lạm phát trung bình cả năm 2026 khoảng 3,5% (biên độ tăng/giảm 0,5%).
Nhiều dự báo cho thấy về cơ bản, áp lực lạm phát trong năm 2026 sẽ cao hơn so với năm 2025 nhưng ít khả năng xảy ra các cú sốc lớn, tốc độ tăng CPI hằng tháng khoảng 0,3%/ tháng; lạm phát trung bình cả năm 2026 khoảng 3,5% (biên độ tăng/giảm 0,5%).
Các yếu tố tác động gia tăng áp lực lạm phát chủ yếu đến từ độ trễ của tăng trưởng tín dụng năm 2025; việc mở rộng đầu tư và tiêu dùng để đạt mục tiêu tăng trưởng cao; tỷ giá cũng được dự báo tiếp tục tác động đến CPI do gia tăng nhu cầu nhập khẩu nguyên liệu sản xuất. Ngược lại, cũng có những yếu tố hỗ trợ giảm áp lực lạm phát như giá hàng hóa cơ bản trên thế giới được dự báo khó có khả năng tăng mạnh do triển vọng tăng trưởng kinh tế toàn cầu vẫn ở mức thấp; ở trong nước, nguồn cung hàng hóa dồi dào, không gây biến động lớn về giá,…
Từ góc nhìn chuyên gia, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Ngô Trí Long, nguyên Viện trưởng Nghiên cứu thị trường giá cả (Bộ Tài chính) dự báo 3 kịch bản lạm phát năm 2026. Cụ thể, kịch bản thuận lợi, CPI bình quân tăng 3-3,4%; kịch bản cơ sở, CPI bình quân tăng 3,5-4%; kịch bản rủi ro cao, CPI bình quân tăng 4,3-4,8%. Trong đó, các biến số chủ yếu tác động đến lạm phát là giá điện, tăng trưởng tín dụng, giá thực phẩm và logistics/tỷ giá. Các nhân tố bên ngoài tác động đến lạm phát Việt Nam dự kiến đan xen cả chiều hướng gây áp lực tăng giá và hạ nhiệt, còn nhóm nhân tố trong nước có nhiều yếu tố gây rủi ro cho lạm phát, đòi hỏi cần có các giải pháp kiểm soát mang tính dài hạn và bền vững hơn.
CPI bình quân năm 2026 dự báo sẽ tăng khoảng 4-4,5%, cao hơn năm 2025. Nguyên nhân do áp lực chi phí cao, khi một số mặt hàng do Nhà nước quản lý như tiền lương, giá điện… tiếp tục được điều chỉnh theo lộ trình và do yếu tố cầu kéo theo khi tăng cung tiền.
Tiến sĩ Cấn Văn Lực và Nhóm tác giả Viện Nghiên cứu kinh tế
Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam
Theo Tiến sĩ Cấn Văn Lực và Nhóm tác giả Viện Nghiên cứu kinh tế Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam, CPI bình quân năm 2026 dự báo sẽ tăng khoảng 4-4,5%, cao hơn năm 2025. Nguyên nhân do áp lực chi phí cao, khi một số mặt hàng do Nhà nước quản lý như tiền lương, giá điện… tiếp tục được điều chỉnh theo lộ trình và do yếu tố cầu kéo theo khi tăng cung tiền. Tuy nhiên về cơ bản, dự báo lạm phát vẫn trong tầm kiểm soát nhờ xu hướng hạ nhiệt của giá cả, lạm phát toàn cầu và yếu tố hỗ trợ đến từ sự ổn định và bảo đảm nguồn cung hàng hóa, dịch vụ thiết yếu trong nước; điều hành tỷ giá, lãi suất.
Phối hợp chặt chẽ trong điều hành
Để kiểm soát lạm phát trong bối cảnh nhiều sức ép tiếp tục gia tăng đòi hỏi phải có sự phối hợp chặt chẽ, hiệu quả giữa chính sách tiền tệ, chính sách tài khóa và công tác điều hành giá. Bám sát các nghị quyết của Quốc hội, Chính phủ về kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội, cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam vừa ban hành Chỉ thị 01/CT-NHNN về tổ chức thực hiện các nhiệm vụ trọng tâm của ngành ngân hàng trong năm 2026.
Theo đó, Ngân hàng Nhà nước định hướng điều hành chính sách tiền tệ chủ động, linh hoạt, phối hợp chặt chẽ với chính sách tài khóa mở rộng hợp lý, có trọng tâm, trọng điểm và các chính sách vĩ mô khác nhằm kiên định ưu tiên mục tiêu kiểm soát lạm phát năm 2026 bình quân khoảng 4,5%, góp phần giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, hỗ trợ tăng trưởng kinh tế bền vững.
Với định hướng nêu trên, Ngân hàng Nhà nước dự kiến tăng trưởng tín dụng toàn hệ thống khoảng 15%, có điều chỉnh phù hợp với diễn biến, tình hình thực tế; đồng thời triển khai đồng bộ các giải pháp về quản lý ngoại hối và quản lý dự trữ ngoại hối nhằm góp phần ổn định thị trường ngoại tệ, hỗ trợ điều hành chính sách tiền tệ. Đây cũng là định hướng quan trọng về sự phối hợp chặt chẽ trong công tác điều hành giữa chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ nhằm ưu tiên thúc đẩy tăng trưởng trên cơ sở giữ ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, bảo đảm các cân đối lớn của nền kinh tế.
Theo Tiến sĩ Lê Quốc Phương, nguyên Phó Giám đốc Trung tâm Thông tin công nghiệp và thương mại (Bộ Công thương), chính sách tài khóa hiện vẫn còn nhiều dư địa hỗ trợ tăng trưởng vì tỷ lệ nợ công/GDP còn cách xa mục tiêu Quốc hội cho phép. Tuy nhiên, dư địa này cần được khai thác một cách có hiệu quả và bảo đảm tính kỷ luật, nhất là trong công tác quản lý, sử dụng vốn đầu tư công khi vốn đầu tư từ nguồn ngân sách nhà nước tiếp tục tăng cao so với năm trước. Nếu giải ngân vốn đầu tư công đúng tiến độ, tập trung vào các công trình hạ tầng then chốt sẽ có tác động lan tỏa đến phát triển kinh tế-xã hội. Ngược lại, nếu giải ngân đầu tư công chậm và kém hiệu quả sẽ đẩy giá cả tăng lên, ảnh hưởng đến mục tiêu kiềm chế lạm phát.

Các ngành chức năng nỗ lực ổn định nguồn cung hàng hóa, dịch vụ thiết yếu. (Ảnh ĐĂNG ANH)
Cục Quản lý giá (Bộ Tài chính) cho biết, năm 2026 đơn vị sẽ tiếp tục tham mưu Bộ Tài chính phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành trình Thủ tướng Chính phủ, Ban Chỉ đạo điều hành giá triển khai đồng bộ các giải pháp ứng phó với thách thức trong công tác quản lý giá, tập trung kiểm soát lạm phát năm 2026 theo mục tiêu đề ra. Các nhiệm vụ trọng tâm gồm theo dõi sát diễn biến giá các mặt hàng chiến lược trên thị trường quốc tế, xu hướng kinh tế và lạm phát toàn cầu để kịp thời cảnh báo rủi ro; tăng cường phân tích, dự báo giá các mặt hàng thiết yếu trong nước, từ đó đề xuất giải pháp điều hành phù hợp.
Đồng thời, tiếp tục theo dõi chặt chẽ phương án, lộ trình giá của các mặt hàng, dịch vụ thiết yếu do Nhà nước quản lý như y tế, giáo dục và cập nhật kịch bản lạm phát nhằm bảo đảm kiểm soát lạm phát cả năm. Bên cạnh đó, Cục Quản lý giá phấn đấu giữ bình ổn giá dịp cuối năm và Tết Nguyên đán, tuyên truyền, công khai về giá và điều hành giá,… nhằm góp phần kiểm soát lạm phát theo mục tiêu mà Quốc hội và Chính phủ đề ra.






























