Khuyến học bằng vật chất ở triều Nguyễn
Triều Nguyễn (1802-1945) là vương triều có chính sách khuyến học bằng vật chất rất đầy đủ cho học sinh theo học tại các trường công lập ở nước ta.

Tân Tiến sĩ dưới triều Nguyễn được cấp 5 phu theo hầu vinh quy bái tổ. Ảnh tư liệu
Chỉ sau một năm khi lên ngôi (1803), vua Gia Long (1802-1819) đã ban chiếu nói về việc học, cho rằng: "Vừa đây Tây Sơn nổi loạn, lao dịch nặng nề, nghề học trễ nải. Nay võ công đã định, văn giáo mở mang. Vậy lấy hai tháng trọng mùa xuân và mùa thu lưu làm khảo khóa".
Sau đó vua đề ra chính sách miễn lao dịch cho người đi học, quy định: "Phàm ai có theo học cử nghiệp, không kỳ quân hay dân, có nộp quyển ở hai học đường để ứng khảo. Người nào thông văn lý thì cho miễn binh đao một năm, hoặc nửa năm, mãn hạn thì khảo lại. Người nào học tiến thì cho miễn binh đao như cũ, không tiến thì truất đi để tỏ rõ sự khuyến khích".
Như vậy, ngay từ đầu triều Nguyễn, người đi học là đối tượng được nhà nước cho miễn lao dịch có thời hạn là một năm hoặc nửa năm, nếu đó là người học tập tiến bộ. Đây là chính sách khuyến học bằng vật chất đúng đắn ở triều Nguyễn vì chú trọng đến thực học, coi thực học là con đường duy nhất để tạo nhân tài cho đất nước.
Chính sách này nhanh chóng được thực thi vào năm 1807, do năm đó là năm mở khoa thi Hương đầu tiên của triều Nguyễn: "Người trúng tứ trường là Hương cống, trúng tam trường là Sinh đồ, đều được miễn phu dịch".
Để nhân tài không bị bỏ sót, vào năm 1812, triều Nguyễn tiếp tục cho người có thực học được miễn lao dịch, giúp họ yên tâm trong học nghiệp, bất kể người đó đảm đương công việc gì.
Cụ thể: "Phàm binh lính, lại dịch có học mà tình nguyện xin thi thì binh lính ở kinh đô do Bộ Binh, ở ngoài do quan địa phương, lại dịch thì do quan sở quản sát hạch, người nào thông văn lý thì được miễn công vụ 3 tháng, cho về học tập để đến kỳ vào thi. Sinh đồ khoa trước thi trượt vẫn là Sinh đồ như cũ; học trò nào trúng nhị trường thì miễn lao dịch 3 năm, nhất trường thì miễn 2 năm".
Theo tinh thần đó, tính vào năm 1858, cả nước có 17.349 người tham dự thi Hương thì 5.556 người đỗ nhất trường, chiếm 1/3 số người dự thi Hương năm đó được miễn binh dịch trong 2 năm; 1767 người đỗ nhị trường, chiếm 1/9 số người được miễn binh dịch 3 năm; hơn 900 Tú tài và Cử nhân được miễn binh dịch và lao dịch suốt đời.
Qua đây cho thấy chính sách miễn phu dịch và binh lính cho người đi học ở giữa thế kỷ XIX của triều Nguyễn có tác dụng mạnh mẽ đến sĩ tử, khiến họ yên tâm, quyết chí theo đuổi đèn sách để tham dự vào các kỳ thi tiếp theo giành học vị cao hơn.

Di tích Trường Quốc Tử Giám Huế – Trường Đại học đầu tiên dưới thời nhà Nguyễn. Ảnh: Tư liệu
Đối với người học tập tại trường Quốc Tử Giám ở trung ương (Huế), vào niên hiệu Minh Mệnh (1820-1840), nhà nước ban hành chế độ về lương, bao gồm tiền, gạo và dầu đèn theo mức khác nhau.
Như Tôn sinh, mỗi tháng cấp tiền 2 quan, gạo 2 phương; Ấm sinh, mỗi tháng cấp tiền từ 2 đến 4 quan, gạo từ 1 đến 2 phương, dầu từ 2 đến 3 cân; Cống sinh, mỗi tháng cấp tiền từ 2 đến 4 quan, gạo từ 2 đến 3 phương, dầu từ 3 đến 5 cân; Cử nhân, mỗi tháng cấp từ 2 đến 4 quan, dầu từ 3 đến 5 cân; Học sinh, mỗi tháng cấp tiền từ 2 đến 4 quan, gạo từ 2 đến 3 phương, dầu từ 3 đến 5 cân.
Quy định như vậy áp dụng cho 5 thành phần lưu trú tại trường không phải nhất thành bất biến mà có sự thay đổi do tăng lên hoặc giảm xuống tùy theo sự tiến bộ hay lười nhác của sinh viên.
Điều này được thực thi vào năm 1853, thuộc triều vua Tự Đức (1848-1883), theo đó có sự điều chỉnh mức lương cùng các phụ phí cho sinh viên dựa trên kết quả khảo khóa từng tháng của từng người.
Cụ thể: "Ở trường Giám, Giám sinh và Ấm sinh qua từng thời kỳ Hội đồng hạch, người nào hạng ưu thì mỗi tháng đều 4 quan, gạo 3 phương; hạng bình tiền 3 quan, gạo 2 phương; hạng thứ tiền 2 quan, gạo 2 phương. Người nào 2 khóa được ưu liền, gia thưởng tiền 1 quan, gạo 1 phương; 2 khóa đều thứ liền, chiết bớt đi cấp cho một nửa. Tôn sinh hạng ưu, mỗi tháng tiền 3 quan, gạo 3 phương; hạng bình tiền 2 quan, gạo 2 phương; hạng thứ tiền 1 quan 3 tiền 20 đồng, gạo 1 phương 10 uyển; người nào hạng liệt 1-2 lần thì phạt lương, 3 lần thì đuổi về".
Đối với trường công lập ở các tỉnh thì quy định về lương nhìn chung giống với quy định của trường Quốc Tử Giám ở trung ương, tức học sinh học tập tiến bộ thì được giữ nguyên mức lương, học sinh học tập không tiến bộ sẽ bị giảm lương, không ngoài mục đích là để khuyến khích học sinh trong cả nước phải cùng phấn đấu vươn lên trong học tập.
Việc đặt ruộng dùng trong học tập cũng được triều Nguyễn coi trọng. Sách Đại Nam thực lục chép vào năm 1829 cho biết Dinh điền sứ Nguyễn Công Trứ nhân huyện Kim Sơn được thành lập, ông dâng sớ nói 5 điều, trong đó điều thứ nhất đề cập việc đặt trường học: "Mỗi ấp, mỗi làng [ở huyện này] đều dựng nhà học, đón một thầy dạy, làng thì lấy ruộng 10 mẫu, ấp thì 8 mẫu làm học điền, miễn đánh thuế. Ruộng học điền ấy phải góp sức cùng làm, đầy năm thu hoạch, lưu làm học bổng. Người đến 8 tuổi thì cho vào trường học, dạy cho các việc quét rửa, ứng đối, tới lui, các phép hiếu, trung, tín, kính, nhường rồi sau mới dạy văn hữu. Đến khi 16 tuổi đã hơi thành tựu thì theo thứ tự mà cho lên trường huyện, phủ, trấn. Nếu học không được thì cho đổi nghề khác. Đến như trại, giáp thì một trại lấy 5 mẫu, giáp lấy 3 mẫu mà phụ vào ấp hay làng".
Đến năm 1871, Bố chính tỉnh Khánh Hòa Đoàn Văn Hội xin đặt Thầy dạy học và ruộng học [cho tỉnh Khánh Hòa]: "Thầy dạy học, mỗi tổng 2-3 người, hoặc 5-6 người, mỗi người được cấp ruộng công hoặc tư 3 mẫu, giảng dạy các học trò trong tổng, sớm tối cùng đôn đốc. Nếu giảng dạy không được hiệu quả thì quan tỉnh và quan coi việc học phân biệt nghĩ xử".
Cả hai đề nghị nêu trên đều được triều đình chấp thuận. Như thế cho thấy việc đặt học điền dưới triều Nguyễn được thực hiện ở vùng đất mới khai khẩn là khu vực duyên hải phía Bắc và tại tỉnh Khánh Hòa của miền Trung, vốn là những nơi Nho học chưa phát triển. Việc đặt học điền tại hai nơi này nhằm thúc đẩy việc học tập tại đây đi lên, từng bước theo kịp với các vùng miền khác trong cả nước.
Từ mặt bằng giáo dục chung như vậy, khi bổ dụng quan lại, điều đáng chú ý ở triều Nguyễn là người đỗ tiểu khoa cũng được cất nhắc, sử dụng vào các vị trí khác nhau trong bộ máy nhà nước.
Chẳng hạn vào năm 1820, các Sinh đồ được bổ vào chức Thư lại của lục phòng tại các trấn ở Nam Bộ. Đến năm 1834, triều đình tiếp tục yêu cầu quan lại tại các địa phương trong cả nước đưa Tú tài có độ tuổi từ 40 trở lên về kinh để khảo hạch.
Người nào đỗ hạng ưu được giữ chức Giáo thụ; đỗ hạng bình giữ chức Huấn đạo; đỗ hạng kém ở tỉnh Quảng Bình trở vào Nam được phái làm Hành tẩu; ở Hà Tĩnh trở ra Bắc thì cho học tập lại nghiệp cũ.
Đây là điểm mới trong cách bổ dụng quan lại ở triều Nguyễn mà trước đó các triều đại quân chủ Việt Nam chưa thực thi. Như thế cũng là cách để khuyến khích sĩ tử trong cả nước hăng hái học tập, thi đỗ ra làm quan phục vụ đất nước ở triều Nguyễn.
*TS Nguyễn Hữu Mùi, nguyên Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu Hán Nôm, nguyên Tổng Biên tập Tạp chí Hán Nôm, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam, hiện là Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu Văn hóa Thăng Long
