Khúc tráng ca bất tử trên “tọa độ lửa“
Cách đây tròn 60 năm, trong những ngày tháng ác liệt của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, trên mảnh đất Lam Hạ anh hùng đã diễn ra những trận chiến đấu kiên cường, góp phần bảo vệ tuyến giao thông huyết mạch chi viện cho miền Nam ruột thịt. Trong khói lửa chiến tranh ấy, Mười nữ liệt sĩ dân quân pháo phòng không Lam Hạ - những cô gái tuổi đời còn rất trẻ đã anh dũng chiến đấu và ngã xuống trên mâm pháo, gửi lại thanh xuân nơi trận địa để máu xương hòa vào lòng đất, tạo nên khúc tráng ca bất tử về chủ nghĩa anh hùng cách mạng.

Bà Nguyễn Thị Tình (ngồi giữa) và các đại biểu tại Hội thảo khoa học “60 năm Ngày hy sinh của Mười nữ dân quân pháo phòng không Lam Hạ (1966-2026) - Giá trị lịch sử và sức sống thời đại”. Ảnh: Đức Lam
Hoa nở trên mâm pháo
Theo Đại tá, Tiến sĩ Lê Thanh Bài, Phó Viện trưởng Viện Chiến lược và Lịch sử quốc phòng Việt Nam, xã Lam Hạ (nay là phường Hà Nam) giữ vị trí địa chính trị và quân sự đặc biệt quan trọng; là nơi hội tụ các mạch máu giao thông chính bao gồm cầu đường bộ trên quốc lộ 1A qua Phủ Lý, cầu đường sắt Bắc - Nam, ga Phủ Lý - điểm tập kết, trung chuyển hàng hóa vào chiến trường; cùng các tuyến vượt sông Châu (cầu phao, cầu ngầm) bảo đảm cho vận tải quân sự khi cầu chính bị đánh phá… Nhận diện rõ tầm quan trọng này, không quân Mỹ đã biến nơi đây thành “tọa độ lửa” - trọng điểm đánh phá hủy diệt với cường độ cực kỳ ác liệt.
Để bảo vệ các mục tiêu chiến lược, một hệ thống phòng thủ kiên cường đã được xây dựng, biến Lam Hạ thành “pháo đài thép” giữa vùng Đồng bằng Sông Hồng. Quán triệt sâu sắc các nghị quyết của Trung ương, Đảng bộ tỉnh Hà Nam đã trực tiếp chỉ đạo xây dựng thế trận phòng không nhân dân rộng khắp, lấy bộ đội chủ lực và lực lượng dân quân tự vệ làm nòng cốt. Hệ thống công sự, hầm hào được xây dựng kiên cố xuyên suốt các thôn, xóm.
Tại trung tâm “tọa độ lửa” ấy, mạng lưới phòng thủ liên hoàn gồm 8 trận địa pháo phòng không được bố trí chiến lược tại ba thôn: Đình Tràng, Hòa Lạc và Đường Ấm. Toàn bộ trận địa được trang bị hỗn hợp các loại vũ khí có dải tầm bắn đa dạng, từ các loại vũ khí trang bị cho bộ binh; súng máy phòng không 12,7mm và 14,5mm cho đến pháo cao xạ 37mm, 57mm, 100mm.
Bà Nguyễn Thị Tình, nguyên Trung đội trưởng Trung đội nữ dân quân phòng không Lam Hạ cho biết: Với vị trí chiến lược quan trọng, khu vực Lam Hạ rộng chưa đầy 10km2 nhưng được bố trí tới 8 trận địa pháo phòng không gồm pháo cao xạ tầm cao, tầm trung, tầm thấp… tạo nên một thế trận phòng không “thiên la địa võng” sẵn sàng đánh trả máy bay Mỹ. Lực lượng trực tiếp vận hành hệ thống trận địa bên cạnh bộ đội chủ lực là Đại đội dân quân phòng không xã Lam Hạ, được thành lập vào ngày 5/8/1965 gồm 87 cán bộ, chiến sĩ, trong đó có một trung đội nữ dân quân gồm 24 cô gái tuổi đời còn rất trẻ, từ 16-24 tuổi, là người của 3 thôn Đình Tràng, Hòa Lạc, Đường Ấm.
Họ vốn là những nông dân, công nhân, giáo viên, học sinh vừa rời ghế trường phổ thông tình nguyện viết đơn gia nhập lực lượng dân quân tự vệ, trực tiếp tham gia phục vụ và chiến đấu cùng bộ đội chủ lực. Dù khó khăn, gian khổ chị em vẫn kiên cường bám trụ trận địa, ngoài thời gian tham gia sản xuất, phục vụ chiến đấu, các đội viên trong trung đội đều tranh thủ huấn luyện kỹ các vị trí pháo thủ từ số 1 đến số 6, phòng khi bộ đội chính quy bị thương hoặc hy sinh thì thay thế vị trí kịp thời. Trong các trận đánh, họ đồng thời đảm nhiệm nhiều nhiệm vụ như pháo thủ, cứu thương, tiếp đạn và trực tiếp tham gia chiến đấu với các loại vũ khí, trang bị hiện có; không ai thoái thác nhiệm vụ, người trước hy sinh, người sau lập tức tiếp bước, thay vị trí chiến đấu.
Trong cuộc đối đầu không khoan nhượng giữa “thép” và “lửa”, trong bom đạn ác liệt của chiến tranh, sự xuất hiện của các cô gái trung đội dân quân phòng không Lam Hạ như những bông hoa kiên cường nở rộ, sẵn sàng đem sức trẻ bảo vệ bầu trời quê hương.

Bà Vũ Hồng Nhu (đứng ngoài cùng bên trái) chia sẻ với thế hệ trẻ về sự hy sinh anh dũng của cácAnh hùng liệt sĩ Trung đội pháo phòng không Lam Hạ. Ảnh: CTV
Khi máu xương hóa thành bất tử
Bà Vũ Hồng Nhu, sinh năm 1950, người “em út” của trung đội cho biết: Vì hoàn cảnh, học hết lớp 4, tôi phải nghỉ học phụ giúp gia đình. Năm 1965, tôi viết đơn tình nguyện gia nhập Trung đội nữ dân quân phòng không Lam Hạ khi mới bước sang tuổi 15; đảm nhận công việc phục vụ chiến đấu như đào đắp công sự, giao thông hào, hố cá nhân để nhân dân trú ẩn khi có còi báo động.
Trận “thử lửa” đầu tiên của bà Nhu diễn ra vào ngày 7/11/1965, khi một tốp máy bay địch bổ nhào cắt bom đánh phá cầu Phủ Lý và các mục tiêu chiến lược mà đơn vị chịu trách nhiệm bảo vệ. Trận này, bà Nhu chịu trách nhiệm phục vụ chiến đấu với các công việc lau đạn, lắp đạn vào băng, tải đạn từ vị trí cho pháo thủ nạp vào pháo 37mm.
Bước sang năm 1966, bà và Anh hùng liệt sĩ Nguyễn Thị Thi được kết nạp vào Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh. Ngoài nhiệm vụ thường xuyên phục vụ chiến đấu, bà Nhu, bà Thi còn cùng với các anh, chị trong Đại đội dân quân và bộ đội chủ lực tham gia huấn luyện sẵn sàng chiến đấu, học cách sử dụng, vận hành thành thạo các loại vũ khí được biên chế, đặc biệt là pháo 37mm. Bà Nhu thường đảm nhiệm vị trí pháo thủ số 3, có nhiệm vụ quay đĩa cự ly, phối hợp chính xác với toàn khẩu đội để ngắm bắn máy bay địch.
Trận chiến đấu ngày 1/10/1966, cả trung đội hầu như chưa ai kịp ăn gì vì hơn 6 giờ sáng, máy bay địch bổ nhào đánh thẳng vào trận địa. Trong trận này, bà Nhu nhận nhiệm vụ ở khẩu đội số 3 cùng với bà Bạch Thị Hòa. Khẩu đội số 4 gồm các bà Trương Thị Thảo, Lưu Thị Mên, Trương Thị Nhàn. Chỉ trong một buổi sáng, máy bay Mỹ liên tiếp mở các đợt công kích, trút bom, rocket như mưa xuống trận địa và các mục tiêu chiến lược.
Trận địa trúng bom sát thương nặng nề, pháo của hai khẩu đội 1, 2 hư hỏng nặng; 6 nữ dân quân Đinh Thị Tâm, Phan Thị Tuyết, Nguyễn Thị Thu, Nguyễn Thị Thi, Phạm Thị Lan và Vũ Thị Phương cùng một số cán bộ, chiến sĩ bộ đội chủ lực đã anh dũng hy sinh khi đang bám trụ trên mâm pháo. Chị Phan Thị Tuyết hy sinh trong tư thế đứng thẳng với đôi tay giữ chắc vị trí trắc thủ; chị Đinh Thị Tâm hy sinh khi tay vẫn cầm đạn pháo chuẩn bị nạp bắn. Hai chị em ruột Nguyễn Thị Thu và Nguyễn Thị Thi cũng bị trúng bom, chị Thu hy sinh ngay vị trí chiến đấu trên mâm pháo, mắt vẫn nhìn lên bầu trời. Chị Thi bị thương nặng nhưng vẫn nén đau để trả thù cho đồng đội, khi được chuyển về bệnh viện, mặc dù được các bác sĩ tận tình cứu chữa nhưng vết thương khá nặng, chị đã hy sinh ngay đêm hôm đó khi chưa tròn 16 tuổi.
Lúc này, cả trận địa chỉ còn khẩu đội 3 và 4 kiên cường giữ vững trận địa, đánh trả quyết liệt máy bay địch. Tiếp theo đó, 8 ngày sau, vào ngày 9/10/1966, tại trận địa pháo 100mm ở thôn Đường Ấm, các chị Nguyễn Thị Thuận, Trần Thị Thẹp và Nguyễn Thị Oánh tiếp tục anh dũng ngã xuống tại vị trí chiến đấu trên mâm pháo. Đến ngày 7/7/1967, người con gái thứ mười, chị Đặng Thị Chung, đã anh dũng hy sinh tại trận địa Hòa Lạc khi đang trực tiếp chiến đấu cùng bộ đội chủ lực.
Theo ông Trương Đình Tưởng, Chủ tịch Hội Khoa học lịch sử Ninh Bình, Mười nữ liệt sĩ dân quân pháo phòng không Lam Hạ đã viết nên huyền thoại bằng máu và nước mắt để bảo vệ nền độc lập, tự do của Tổ quốc. Sự hy sinh anh dũng của các chị trên mâm pháo là đỉnh cao của chủ nghĩa anh hùng cách mạng, biểu tượng kiêu hãnh của phụ nữ Việt Nam “Anh hùng, bất khuất, trung hậu, đảm đang” trong cuộc đối đầu lịch sử với không quân Mỹ. Sáu mươi năm đã trôi qua, nhưng có những điều thời gian không thể xóa nhòa.
Mười cô gái dân quân năm ấy đã gửi lại tuổi thanh xuân trên mâm pháo, anh dũng ngã xuống giữa bão lửa để đổi lấy bầu trời bình yên cho quê hương. Các chị trở thành biểu tượng của chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam, của sức mạnh nhân dân trong chiến tranh giữ nước và phẩm giá cao đẹp của người phụ nữ Việt Nam. Có những tượng đài được dựng bằng đá, có những tượng đài được dựng bằng đồng. Nhưng cũng có những tượng đài được dựng bằng ký ức của nhân dân và bằng sự trường tồn của lịch sử. Mười nữ liệt sĩ dân quân pháo phòng không Lam Hạ là một tượng đài như thế.
Sáu mươi năm đã đi qua, bom đạn đã lùi xa, nhưng lòng yêu nước, ý chí kiên cường và sự hy sinh cao cả của các chị vẫn tiếp tục tỏa sáng trên con đường xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hôm nay.
