Khơi thông nguồn lực từ dữ liệu văn hóa
Việt Nam đã tạo lập ngày càng nhiều dữ liệu số về di sản, nhưng phần lớn vẫn phân tán, thiếu liên thông và chưa được khai thác như một nguồn lực. Chuyển từ những bản sao số rời rạc sang hạ tầng tri thức dùng chung vì thế là điều kiện để di sản tiếp tục tạo ra giá trị cho nghiên cứu, giáo dục, sáng tạo và cộng đồng.
Từ số hóa đến hạ tầng tri thức
Tại phiên họp thứ hai đánh giá tình hình thực hiện Nghị quyết số 80 của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã chỉ ra một khoảng trống lớn trong quá trình phát huy giá trị di sản. Đó là năng lực chuyển hóa di sản văn hóa thành dữ liệu, tri thức số, tài sản trí tuệ và sức sáng tạo quốc gia.
Việt Nam không thiếu di sản, cũng không thiếu những dự án đưa di sản lên môi trường số. Hàng loạt hình ảnh, mô hình 3D, tư liệu và cơ sở dữ liệu đã được tạo lập. Tuy nhiên, phần lớn vẫn tồn tại rời rạc, thiếu liên thông, chưa hình thành được một hạ tầng tri thức dùng chung để tiếp tục phục vụ nghiên cứu, sáng tạo và tạo ra giá trị mới.
Thực tế ấy cho thấy số hóa di sản không thể chỉ được đo bằng số lượng hiện vật đã chụp, công trình đã quét hay tư liệu đã đưa lên mạng. Điều quan trọng hơn là dữ liệu sau khi được tạo lập sẽ được tổ chức, diễn giải và khai thác như thế nào.
Chia sẻ về vấn đề này, TS Trần Hoài, Trưởng bộ môn Di sản học, Trường Khoa học Liên ngành và Nghệ thuật (ĐHQGHN) nhấn mạnh: “Có nội dung số chưa chắc đã đồng nghĩa với chuyển đổi số”. Theo ông, điểm nghẽn trước hết nằm ở khả năng chuyển hóa nội dung từ dạng vật thể và dữ liệu số thành tri thức. Quá trình ấy đòi hỏi năng lực xử lý, diễn giải và tổ chức dữ liệu của con người, chứ không chỉ phụ thuộc vào thiết bị hay công nghệ.
Nhận định này cũng lý giải vì sao một kho dữ liệu đồ sộ chưa chắc đã tạo nên giá trị tương xứng. Một kho ảnh dù có dung lượng lớn vẫn có thể chỉ là tập hợp những tệp tin rời rạc nếu thiếu chú giải, thiếu thông tin khoa học và không thể kết nối với các nguồn tư liệu khác. Dữ liệu về một hiện vật vì thế không thể dừng lại ở hình ảnh bề mặt mà cần phản ánh đầy đủ xuất xứ, niên đại, chất liệu, kỹ thuật tạo tác, bối cảnh lịch sử cùng giá trị văn hóa, nghệ thuật.
Từ yêu cầu chuyển dữ liệu thành tri thức, một vấn đề tiếp theo được đặt ra là phải xây dựng bộ khung dữ liệu đủ đầy và có hệ thống. Theo TS Nguyễn Văn Tú, Phó giám đốc Trung tâm Hoạt động Văn hóa Khoa học Văn Miếu Quốc Tử Giám: “Những hình ảnh được tạo lập ở giai đoạn đầu chính là nền móng của bộ khung ấy”.
Tuy nhiên, chỉ khi dữ liệu được xây dựng tương đối đầy đủ, đồng bộ và có khả năng liên kết, người làm di sản mới có cơ sở phát triển những hình thức khai thác tiếp theo. Dữ liệu càng rời rạc, khả năng tạo ra các sản phẩm sáng tạo có chiều sâu càng hạn chế.
Việc số hóa bia Tiến sĩ tại Văn Miếu Quốc Tử Giám là một minh chứng cụ thể cho bước chuyển nói trên. Ban đầu, dữ liệu được tạo lập để phục vụ quản lý, nghiên cứu, đối chiếu, dự phòng phục dựng nếu xảy ra sự cố, đồng thời hỗ trợ giới thiệu và truyền thông. Đây là lớp giá trị đầu tiên, nhưng chưa phải điểm đến cuối cùng của số hóa.

82 bia Tiến sĩ tại Văn Miếu - Quốc Tử Giám đã hoàn tất quá trình số hóa để ứng dụng vào hoạt động tham quan, trải nghiệm
Chỉ khi từ nền tảng dữ liệu ấy tiếp tục hình thành những sản phẩm phục vụ giáo dục, nghiên cứu và trải nghiệm của công chúng, bản sao số mới thực sự được vận hành như một nguồn lực. Khi đó, dữ liệu không còn nằm yên trong kho lưu trữ mà trở thành chất liệu cho những cách kể chuyện mới, mở rộng khả năng tiếp cận di sản và tiếp tục sinh ra giá trị cho cộng đồng.
Mắc kẹt trong những “ốc đảo dữ liệu”
Sau câu chuyện về chất lượng của từng bộ dữ liệu, một điểm nghẽn mang tính hệ thống khác cũng dần hiện rõ. Việt Nam đã có không ít dự án số hóa di sản, nhưng nhiều dự án vẫn chỉ vận hành trong phạm vi một di tích, một cơ quan hoặc một nhóm thực hiện. Dữ liệu được tạo ra ngày càng nhiều, song chưa kết nối thành một dòng chảy tri thức có thể chia sẻ, kiểm chứng và tiếp tục khai thác. Nói cách khác, chúng ta đang có thêm nhiều kho dữ liệu, nhưng chưa thực sự hình thành được một hạ tầng dữ liệu.
TS Trần Hoài gọi tình trạng đó là sự tồn tại của những “ốc đảo dữ liệu”. Khi mỗi nơi theo đuổi một ý tưởng, một cách tổ chức và một nền tảng khác nhau, các kết quả dù có giá trị vẫn khó tìm được điểm nối. Một mô hình 3D có thể phục vụ tốt cho một cuộc trưng bày; một kho ảnh có thể đáp ứng nhu cầu quản lý của một di tích. Nhưng nếu không thể kết nối với các nguồn tư liệu nghiên cứu, giáo dục và sáng tạo ở nơi khác, giá trị của chúng sẽ chỉ dừng lại trong phạm vi của chính dự án đã tạo ra.

Công nghệ 3D mapping đổi mới cách kể chuyện di sản
Sự biệt lập ấy không chỉ hạn chế khả năng chia sẻ, mà còn đe dọa trực tiếp đến sự an toàn của dữ liệu. Ông Huy Nguyễn, CEO kiêm Nhà sáng lập Phygital Labs, cho biết: “Dữ liệu số hóa tại nhiều trung tâm hiện vẫn được triển khai nhỏ lẻ, độc lập. Có đơn vị lưu giữ hàng nghìn bản sao, tư liệu hoặc hình ảnh trên một hệ thống quản trị riêng. Nếu hệ thống ấy gặp sự cố, toàn bộ dữ liệu có thể bị mất và rất khó khôi phục”.
Như vậy, một “ốc đảo dữ liệu” không chỉ khó tạo ra giá trị cộng hưởng, mà còn có thể trở thành một điểm yếu khi toàn bộ tài sản số phụ thuộc vào duy nhất một nơi lưu trữ.Từ nguy cơ đó, ông Huy Nguyễn đề cập blockchain như một công cụ hỗ trợ phân tán dữ liệu tới nhiều bên, qua đó hạn chế sự phụ thuộc vào một hệ thống duy nhất và góp phần duy trì tính toàn vẹn của dữ liệu. Công nghệ này cũng cho phép theo dõi quá trình hình thành, lưu chuyển và thay đổi của dữ liệu, tạo cơ sở để kiểm chứng nguồn gốc.
Tuy nhiên, ông nhấn mạnh công cụ chỉ là công cụ. Dù công nghệ có thể giúp dữ liệu an toàn và minh bạch hơn, nhưng không thể thay thế cơ chế quản trị, càng không thể tự kết nối những kho dữ liệu rời rạc thành một hệ sinh thái có khả năng tạo ra giá trị.
Bởi vậy, vấn đề không chỉ nằm ở việc lựa chọn công nghệ nào, mà còn ở chỗ lấy gì để đo hiệu quả của quá trình số hóa. Lượt truy cập, số người trải nghiệm hay hiệu ứng truyền thông có thể phản ánh sức hút ban đầu, nhưng chưa nói lên sức sống lâu dài của dữ liệu. Điều cần được xem xét là bản sao số có chính xác hay không; có thể được lưu giữ, cập nhật khi công nghệ thay đổi hay không; đơn vị bảo tồn có nắm quyền quản lý dữ liệu gốc hay không; và sản phẩm mới có thực sự làm giàu thêm giá trị của di sản hay không.
Công nghệ khơi gợi chiều sâu di sản
Nếu ở cấp độ hệ thống, dữ liệu cần được kết nối để tạo ra giá trị lâu dài, thì ở cấp độ trải nghiệm, công nghệ cũng phải giúp công chúng đi sâu vào thế giới của di sản.
Một mô hình 3D bắt mắt, một không gian thực tế ảo hay thao tác chạm điện thoại có thể khiến công chúng dừng lại chiêm ngưỡng, trầm trồ. Nhưng để họ muốn ở lại, tiếp tục tìm hiểu và hình thành mối liên hệ với di sản, công nghệ phải làm được nhiều hơn việc tạo ra cảm giác mới lạ.
Theo TS Trần Hậu Yên Thế, nhà nghiên cứu mỹ thuật truyền thống, giảng viên Trường Khoa học liên ngành và Nghệ thuật (ĐHQGHN), người từng tham gia nhiều dự án số hóa di sản và sáng tạo từ dữ liệu số: “Sức hấp dẫn của số hóa không chỉ nằm ở kỹ thuật, mà trước hết ở khả năng tạo ra một định dạng tiếp cận mới”.
Sự khác biệt này không chỉ nằm ở việc có thêm âm thanh, chuyển động hay hiệu ứng thị giác. Công nghệ chỉ thực sự có ý nghĩa khi giúp công chúng nhìn thấy những chi tiết mà hình ảnh tĩnh khó truyền tải, hiểu được mối liên hệ giữa hiện vật với không gian văn hóa và chủ động lựa chọn hành trình khám phá của riêng mình. Khi đó, một bức ảnh, một cuốn sách số không còn chỉ là vật để đọc, mà có thể trở thành một trải nghiệm đa giác quan, đưa người đọc đến gần hơn với chiều sâu của di sản.

Dự án Sách vật lý số của TS Trần Hậu Yên Thế và cộng sự được tích hợp trong tượng Nghê đồng
Điểm quan trọng vì thế không nằm ở thao tác chạm, mà ở những gì được mở ra sau thao tác ấy. Người xem không chỉ nhận diện một biểu tượng, một đường nét hoa văn, mà còn có thể tiếp cận câu chuyện về hình dáng, ý nghĩa biểu tượng và vị trí của di sản suốt dòng chảy lịch sử.
“Lúc đó, giá trị của một sản phẩm văn hóa không còn được quyết định bởi quy mô hay mức độ hiện đại của công nghệ, mà nằm ở chiều sâu trải nghiệm và những cảm xúc, nhận thức mà sản phẩm có thể khơi mở. Chỉ bằng một thao tác chạm, người xem có thể bước vào không gian tri thức gắn với hiện vật, từ đó tự mình khám phá những câu chuyện văn hóa phía sau”, TS. Trần Hậu Yên Thế chia sẻ.

























![[Video] Tiêu điểm 5/8: Nước Mỹ và lỗ hổng an ninh của những nhà máy nước](https://photo-baomoi.bmcdn.me/w250_r3x2/2026_08_05_14_55769436/8f2df7ddbc9655c80c87.jpg)





