Khơi thông dòng chảy dữ liệu
Việt Nam đang từng bước hình thành không gian dữ liệu thống nhất, mở rộng khả năng kết nối, chia sẻ và đưa dữ liệu vào lưu thông.

Doanh nghiệp tìm hiểu giải pháp hạ tầng trung tâm dữ liệu tại DCCI Summit 2026 (Ảnh Viettel IDC)
Việt Nam đang từng bước hình thành không gian dữ liệu thống nhất, mở rộng khả năng kết nối, chia sẻ và đưa dữ liệu vào lưu thông. Cùng với việc hoàn thiện kiến trúc, nền tảng dùng chung và khuôn khổ cho thị trường dữ liệu, yêu cầu đặt ra là làm sao khai thác nguồn lực này an toàn, hiệu quả, tạo giá trị cho quản trị, sản xuất, kinh doanh và đổi mới sáng tạo.
Xây nền tảng cho dữ liệu dùng chung
Trong nền kinh tế số, dữ liệu ngày càng giữ vai trò quan trọng đối với năng lực quản trị, dự báo và đổi mới sáng tạo. Tuy nhiên, dữ liệu khó tạo ra giá trị nếu còn phân tán trong những hệ thống riêng biệt, thiếu chuẩn hóa và chưa có cơ chế kết nối, chia sẻ phù hợp. Khoảng cách giữa “có dữ liệu” và “biến dữ liệu thành giá trị” vì thế vẫn còn khá lớn. Khung kiến trúc tổng thể quốc gia số phiên bản 1.0 vừa được Thủ tướng Chính phủ ban hành, làm căn cứ xây dựng hạ tầng số, nền tảng số, cơ sở dữ liệu và dịch vụ số. Khung kiến trúc hướng tới bảo đảm đồng bộ, kết nối, liên thông, sử dụng chung, kế thừa các thành phần hiện có, hạn chế đầu tư phân tán, trùng lặp và lãng phí.
Một nguyên tắc cốt lõi của Khung kiến trúc tổng thể quốc gia số là lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành dựa trên dữ liệu theo thời gian thực. Dữ liệu được quản trị thống nhất theo yêu cầu “đúng, đủ, sạch, sống, thống nhất, dùng chung”, được chuẩn hóa, kết nối, chia sẻ và khai thác theo quy định. Đây cũng là bước cụ thể hóa Chiến lược dữ liệu quốc gia giai đoạn 2026-2030, tầm nhìn đến năm 2045, hướng tới hình thành hệ sinh thái dữ liệu thống nhất, hiện đại, an toàn, tin cậy.
Cùng với Khung kiến trúc, danh mục 79 nền tảng số dùng chung quốc gia đã được xác lập. Các nền tảng lõi như Cổng dịch vụ công quốc gia, VNeID, Nền tảng tích hợp, chia sẻ dữ liệu quốc gia và Cổng dữ liệu quốc gia được triển khai thống nhất trên phạm vi cả nước. Phó Cục trưởng Cục Chuyển đổi số quốc gia Lê Anh Tuấn cho biết, thể chế và kiến trúc chung đã từng bước được xác lập, song kết quả còn phụ thuộc nhiều vào khâu tổ chức thực hiện. Thực tế cho thấy, nơi người đứng đầu trực tiếp chỉ đạo, triển khai sát sao thì sớm có sản phẩm cụ thể; nơi thực hiện chậm, thiếu quyết liệt thì chuyển biến còn hạn chế, ảnh hưởng đến tiến độ và giải ngân các dự án, nền tảng số, cơ sở dữ liệu.
Đến nay đã có 73 cơ sở dữ liệu quốc gia và chuyên ngành được kết nối, với khoảng 450 triệu bản ghi và 7.300 thuộc tính dữ liệu.
Theo Trung tâm Dữ liệu quốc gia, đến nay đã có 73 cơ sở dữ liệu quốc gia và chuyên ngành được kết nối, với khoảng 450 triệu bản ghi và 7.300 thuộc tính dữ liệu. Trên nền tảng này, 350 thủ tục hành chính đã được cắt giảm hoặc thay thế thành phần hồ sơ bằng dữ liệu, 82 dịch vụ công toàn trình dựa trên dữ liệu đang được triển khai. Đây là bước chuyển từ số hóa sang tái thiết kế thủ tục, từng bước thực hiện nguyên tắc “dữ liệu thay giấy tờ”, “một lần khai báo, nhiều lần sử dụng”.
Ở cấp địa phương, Đà Nẵng là một trong những nơi sớm vận hành Cổng dữ liệu mở và nền tảng dữ liệu dùng chung. Theo số liệu được Sở Khoa học và Công nghệ thành phố công bố đầu năm 2026, cổng đã cung cấp hơn 1.500 bộ dữ liệu, thu hút hơn 1.800 tài khoản đăng ký và gần 5,8 triệu lượt truy cập, tạo nguồn dữ liệu để doanh nghiệp, startup phát triển ứng dụng trong du lịch, giao thông và quản lý đô thị. Tháng 7/2026, thành phố triển khai chính sách hỗ trợ chuyển đổi số, hướng tới mục tiêu đến năm 2030 hỗ trợ hơn 80% doanh nghiệp nhỏ và vừa tiếp cận giải pháp số, kinh tế số và đóng góp khoảng 35- 40% GRDP.
Các chuyên gia nhận định, kết nối kỹ thuật mới chỉ là bước đầu. Thực tế xây dựng cơ sở dữ liệu về hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo cho thấy thông tin về dòng vốn đầu tư, số thương vụ và hoạt động của doanh nghiệp còn phân tán, thiếu đồng bộ. Theo ông Hoàng Ngọc Nhân, Cục trưởng Cục Khởi nghiệp và Doanh nghiệp công nghệ (Bộ Khoa học và Công nghệ), để đánh giá đúng thực chất hệ sinh thái tại từng địa phương, dữ liệu phải bảo đảm “đúng, đủ, sạch, sống”, được cập nhật thường xuyên, kết nối và khai thác hiệu quả. Điều này đòi hỏi thống nhất tiêu chí thu thập và trách nhiệm cập nhật dữ liệu.

Kỹ thuật viên điều phối hoạt động kho bãi tại Phòng điều hành NOC, Công viên Logistics Viettel Lạng Sơn (Ảnh QUỐC ĐẠT)
Một trường hợp cụ thể là dữ liệu địa điểm, lớp dữ liệu gắn với con người, doanh nghiệp, đất đai, tài sản và nhiều hoạt động kinh tế-xã hội. Thiếu tướng Nguyễn Ngọc Cương, Giám đốc Trung tâm Dữ liệu quốc gia, Phó Chủ tịch Hiệp hội Dữ liệu quốc gia nhấn mạnh, để dữ liệu được chia sẻ, kết nối, phân tích và ứng dụng rộng rãi, điều kiện tiên quyết là có hạ tầng dữ liệu đồng bộ, tin cậy, có khả năng liên thông. Mỗi địa điểm có thể trở thành điểm kết nối dữ liệu.
Khi được định danh chuẩn, thống nhất, xây dựng thành lớp tham chiếu dùng chung, dữ liệu địa điểm tạo cơ sở để các hệ thống kết nối, đối soát và khai thác thông tin; đồng thời còn hỗ trợ quản lý đất đai, quy hoạch đô thị, cung cấp dịch vụ công, ứng cứu khẩn cấp, phục vụ thương mại điện tử, logistics, bản đồ số và phát triển ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI). Giá trị của dữ liệu không nằm ở việc thu thập, lưu giữ riêng lẻ mà ở khả năng chuẩn hóa, cập nhật, liên thông và đưa vào giải quyết bài toán cụ thể của quản lý, sản xuất, kinh doanh.
Đưa dữ liệu vào lưu thông an toàn
Hạ tầng kết nối giúp dữ liệu có thể chia sẻ nhưng để trở thành nguồn lực kinh tế, dữ liệu còn phải được đưa tới đúng chủ thể có nhu cầu và được khai thác trong một khuôn khổ minh bạch. Nghị định số 314/2026/ NĐ-CP về hoạt động của sàn dữ liệu, có hiệu lực từ ngày 25/9/2026 mở ra môi trường để dữ liệu, sản phẩm và dịch vụ về dữ liệu được niêm yết, chào mua, chào bán, định giá, đấu giá và cấp quyền khai thác theo quy định.
Điểm cốt lõi của sàn dữ liệu là đưa dữ liệu vào lưu thông có kiểm soát. Một bộ dữ liệu được chuẩn hóa, xác định rõ quyền khai thác có thể trở thành đầu vào cho nghiên cứu, huấn luyện AI, phân tích thị trường, tối ưu chuỗi cung ứng, phát triển dịch vụ số và mô hình kinh doanh mới. Khả năng giao dịch cũng tạo động lực để tổ chức, doanh nghiệp quan tâm hơn đến độ chính xác, tính đầy đủ, mức độ cập nhật và khả năng tích hợp dữ liệu.
Thực tế tại Vinamilk, dữ liệu được kết nối xuyên suốt từ thị trường, hệ thống phân phối đến nhà máy, gồm dữ liệu bán hàng, tồn kho, năng lực thiết bị, định mức nguyên liệu, năng lượng và nhân công. Theo đại diện doanh nghiệp, việc tích hợp, phân tích các nguồn dữ liệu giúp nâng cao độ chính xác trong lập kế hoạch sản xuất, cung ứng, tối ưu tồn kho, sử dụng hiệu quả năng lực giữa các nhà máy, chủ động bảo trì thiết bị và kiểm soát chi phí. Chuỗi cung ứng nhờ đó vận hành linh hoạt hơn, phản ứng nhanh hơn trước biến động thị trường.
Không phải dữ liệu nào cũng có thể đưa lên sàn. Theo Nghị định số 314/2026/NĐ-CP, dữ liệu hình thành từ cơ sở dữ liệu quốc gia, cơ sở dữ liệu chuyên ngành chỉ được cung cấp trong phạm vi được phép chia sẻ, khai thác và phải được chủ thể có thẩm quyền cho phép, trừ dữ liệu mở đã công bố. Dữ liệu giao dịch không được làm lộ bí mật nhà nước, dữ liệu cá nhân, dữ liệu hạn chế tiếp cận hoặc những dữ liệu pháp luật không cho phép chia sẻ. Vì vậy, quyền khai thác không đồng nghĩa với quyền tùy ý thương mại hóa dữ liệu. Nguồn gốc, quyền cung cấp, phạm vi sử dụng, chất lượng và các giới hạn đi kèm cần được xác định rõ để các bên lựa chọn, định giá và giao dịch minh bạch.
Chất lượng và an toàn dữ liệu càng trở nên cấp thiết trước sự phát triển nhanh của AI. Trung tá Đào Đình Nam, Phó Trưởng phòng Tham mưu Tổng hợp, Trung tâm Dữ liệu quốc gia nhấn mạnh: “Không có dữ liệu thì không thể huấn luyện AI. Không có dữ liệu chất lượng cao thì không thể có AI chính xác và tin cậy”. Vì vậy, an ninh dữ liệu phải được thiết kế trong toàn bộ vòng đời AI, phòng ngừa nguy cơ dữ liệu huấn luyện bị làm sai lệch, đầu độc hoặc thông tin cá nhân, bí mật kinh doanh bị rò rỉ. Giao dịch dữ liệu phải bảo đảm khả năng định danh, xác thực và truy vết, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên tham gia và tạo dựng niềm tin cho thị trường.
Kiến trúc chung, các nền tảng dùng chung và khuôn khổ cho thị trường dữ liệu đang dần được hoàn thiện. Giá trị của dữ liệu sẽ rõ hơn khi được đưa vào giải quyết những nhu cầu cụ thể trong quản lý, sản xuất và đời sống. Dữ liệu được chuẩn hóa, kết nối và khai thác an toàn mở thêm cơ hội phát triển cho người dân, doanh nghiệp và nền kinh tế.
