Khi bác sĩ 'lười...chiến lược' trong kỷ nguyên số
Không tiếng gọi, không câu hỏi, cũng không lời giục giã, những giường bệnh ngay ngắn trong không khí yên tĩnh, không bị đè nén bởi những cảm xúc căng thẳng thường thấy tạo nên cảm giác bất ngờ và cả sự tò mò khi bước vào Trung tâm Cấp cứu và Hồi sức tích cực, Bệnh viện Đại học Y Hà Nội.
Vì đâu mà có sự “an yên” kỳ lạ như vậy ở một trung tâm cấp cứu tuyến cuối?
Chắc chắn không phải vì số lượng bệnh nhân nhập viện tại đây giảm. Bởi trong dịp Tết Nguyên đán Bính Ngọ 2026 vừa qua, Trung tâm Cấp cứu và Hồi sức tích cực của Bệnh viện Đại học Y Hà Nội tiếp nhận xấp xỉ 1.000 lượt bệnh nhân, con số này tăng gần 30% so với Tết năm trước.

Thạc sĩ, Bác sĩ nội trú Ngô Đức Hùng, Phó Giám đốc Trung tâm Cấp cứu và Hồi sức tích cực-Bệnh viện Đại học Y Hà Nội chia sẻ cùng Báo Nhân Dân.
Đáng chú ý, tỷ lệ bệnh nhân thuộc nhóm cảnh báo cao, tức bệnh nhân nặng và phức tạp chiếm khoảng 60-70%, trong khi ngày thường tỷ lệ này chỉ dao động khoảng 35-40%. Như vậy, không chỉ số lượng bệnh nhân gia tăng mà mức độ nặng của các ca bệnh cũng tăng rõ rệt.
Quét QR để “thanh toán” những thắc mắc
Từ cửa trung tâm cấp cứu tới chân những giường bệnh nằm dọc lối đi “ngăn nắp”, trên những tờ phiếu “rất sơ sài” ghi thông tin bệnh nhân có một mã QR.
Đưa phóng viên vào trong “vùng tự hào” của mình, Thạc sĩ, Bác sĩ nội trú Ngô Đức Hùng, Phó Giám đốc Trung tâm Cấp cứu và Hồi sức tích cực-Bệnh viện Đại học Y Hà Nội giới thiệu: “Ngay từ khâu tiếp nhận, bệnh nhân được phân loại theo mức độ nặng bằng mã màu và ký hiệu gắn trực tiếp, giúp nhận diện nhanh tình trạng của người bệnh. Sau đó các thông tin của bệnh nhân sẽ được đưa lên hệ thống chung”.
Chiếc mã QR vốn rất quen thuộc trong mọi giao dịch thanh toán hằng ngày hiện đã được tích hợp để “thanh toán” những câu hỏi, nỗi thắc mắc trong quá trình thăm khám, điều trị của bệnh nhân.

Bác sĩ Hùng chia sẻ: “Chúng tôi xây dựng hệ thống phân loại bệnh nhân cấp cứu bằng phần mềm điện tử. Dựa trên thông tin khai thác và dấu hiệu sinh tồn, hệ thống hỗ trợ phân nhóm bệnh nhân theo mức độ cảnh báo từ nhẹ đến nặng. Nhờ đó, bác sĩ biết bệnh nhân nào cần ưu tiên xử trí ngay”.
Từ đây, toàn bộ tiến trình điều trị của bệnh nhân như đã được khám hay chưa, đã lấy xét nghiệm hay đang chờ kết quả, đợi can thiệp đều được cập nhật liên tục trên hệ thống. Người nhà chỉ cần quét mã QR gắn ngay tại giường bệnh để theo dõi từng bước xử trí mà không phải liên tục đi tìm nhân viên y tế để hỏi tình hình.
Sự minh bạch này trực tiếp giải quyết một trong những áp lực lớn nhất tại trung tâm cấp cứu: cảm giác chờ đợi trong mơ hồ. Khi không còn khoảng trống thông tin, những câu hỏi dồn dập, sự sốt ruột hay căng thẳng của thân nhân giảm đi rõ rệt.

Người nhà biết bệnh nhân được chăm sóc đến đâu, còn nhân viên y tế không bị gián đoạn bởi những lo lắng bị dồn nén.
Việc chủ động cung cấp thông tin đã thay đổi đáng kể trật tự vận hành của những khu vực cấp cứu vốn được hình dung là vô cùng ngột ngạt và căng thẳng.
Sự “hỗn độn” quen thuộc của khu vực cấp cứu được thay bằng trạng thái kiểm soát tốt hơn khi người nhà biết bệnh nhân được chăm sóc đến đâu, còn nhân viên y tế không bị gián đoạn bởi những lo lắng bị dồn nén.
Công nghệ, trong trường hợp này, không chỉ hỗ trợ điều trị mà còn góp phần “hạ nhiệt” những điểm căng thẳng dễ phát sinh nhất giữa bệnh viện và thân nhân người bệnh.
Bên cạnh hệ thống phân loại bệnh nhân cấp cứu, trung tâm đồng thời triển khai cơ chế “báo động đỏ” vận hành theo thời gian thực. Mỗi tình huống khẩn cấp được mã hóa bằng một màu riêng, tương ứng với các kịch bản như thảm họa nội viện, bệnh nhân nguy kịch cần huy động hỗ trợ đa chuyên khoa hay sự cố an ninh.
Khi hệ thống được kích hoạt, các khoa liên quan như tim mạch, ngoại tổng hợp, ngoại thần kinh,… lập tức nhận tín hiệu cảnh báo đồng thời. Thay cho quy trình gọi điện từng khoa như trước đây, chỉ với một thao tác bấm nút, mạng lưới phản ứng cấp cứu được khởi động gần như tức thì, rút ngắn đáng kể thời gian huy động nhân lực.
Sau thời gian vận hành, hệ thống không chỉ duy trì vai trò hỗ trợ thường trực mà còn tiếp tục được thử thách trong những thời điểm áp lực nhất.
Dịp Tết vừa qua, một ca cấp cứu bệnh nhân trẻ diễn tiến suy tim tối cấp đã khiến cơ chế báo động nội viện được kích hoạt khẩn cấp, mở đầu cho cuộc can thiệp đa chuyên khoa trong nhiều giờ đồng hồ.
Một trường hợp bệnh nhân nữ sinh năm 1999 nhập viện vì đau ngực. Trước đó vài ngày, bệnh nhân ho, sốt, đau ngực tăng dần nhưng không đi khám. Khi vào viện, bệnh nhân đã ở tình trạng tiền sốc. Chỉ trong chưa đầy 3 giờ, chức năng tim suy giảm nhanh, co bóp rất yếu, huyết động mất ổn định. Nếu chậm thêm một khoảng thời gian ngắn, nguy cơ thiếu máu não kéo dài có thể dẫn đến tổn thương não không hồi phục.
Trong bối cảnh ấy, hệ thống báo động đa chuyên khoa được kích hoạt, đội ngũ y tế đã hội chẩn với chuyên gia tim mạch, thống nhất chỉ định triển khai ECMO (tim phổi nhân tạo ngoài cơ thể) để hỗ trợ tuần hoàn và hô hấp.

Nữ bệnh nhân dần hồi phục sau những ngày chạy ECMO.
Tim bệnh nhân được “nghỉ”, tuần hoàn và trao đổi khí được duy trì bằng máy, não tiếp tục được tưới máu đầy đủ. Những thao tác vốn đòi hỏi phối hợp chính xác giữa nhiều chuyên khoa được thực hiện đồng bộ nhờ quy trình chuẩn hóa sẵn có. Sau những ngày nằm hồi sức tích cực, bệnh nhân đã bước qua cửa tử và có lại được nhận thức.
Ca bệnh là một trong nhiều minh chứng cho hiệu quả của quy trình và hệ thống báo động, tận dụng tối đa “thời gian vàng”, tổ chức nguồn lực, triển khai kỹ thuật chuyên sâu đúng thời điểm.
Để yên cho bác sĩ…“lười”
Có nhiều dạng lười, có sự lười làm giảm chất lượng công việc, nhưng cũng có một dạng “lười mang tính chiến lược” như lười những việc không tạo ra giá trị chuyên môn, lười những khâu trung gian làm tiêu hao sự tập trung.
Với bác sĩ cấp cứu, mỗi quyết định đòi hỏi độ chính xác cao và khả năng xử lý thông tin nhanh trong điều kiện áp lực lớn. Nếu nguồn lực nhận thức bị chia nhỏ cho các việc hành chính, chất lượng quyết định sẽ bị ảnh hưởng.

Điều này có lẽ cũng là khởi nguồn cho những suy nghĩ rất thực tế của Bác sĩ Ngô Đức Hùng. Sau nhiều năm làm cấp cứu, anh nhận ra rằng sự mệt mỏi của bác sĩ không chỉ đến từ ca bệnh nặng, mà còn đến từ sự phân mảnh, những cuộc gọi chồng chéo, những bước xác nhận thủ công, những quy trình rời rạc buộc người thầy thuốc phải vừa điều trị, vừa điều phối, vừa theo dõi hành chính thậm chí là bằng giấy tờ.
Trước đây, khi quản lý bằng giấy tờ thủ công, tình trạng quá tải, “vỡ trận” thường xảy ra vì không thể bao quát hết thông tin.
Thống kê cho thấy, ngay sau Tết, nhóm bệnh nhân nguy kịch (mã đỏ - nguy kịch cần can thiệp ngay lập tức) và bệnh nhân có bệnh lý phức tạp (mã cam - các trường hợp phức tạp có nguy cơ diễn tiến nhanh) chiếm hơn 50% tổng số ca cấp cứu. Điều này đồng nghĩa, quá nửa bệnh nhân bước vào trung tâm cấp cứu đều nằm trong nhóm cần theo dõi sát hoặc xử trí khẩn.
Thay vì yêu cầu bác sĩ làm nhiều hơn, tại sao không đẩy sự phân mảnh đó cho khoa học công nghệ để bảo vệ chuyên môn khỏi những “nhiễu động” không cần thiết?
Ở thời điểm áp lực cao nhất, riêng khu vực tiếp nhận bên ngoài có tới 53 bệnh nhân cấp cứu trong khi ca trực tối đa chỉ có 5 bác sĩ. Mỗi quyết định chuyên môn diễn ra song song với hàng loạt chỉ định mới phát sinh, đặc biệt ở luồng đỏ, nơi tình trạng người bệnh có thể thay đổi từng phút.
Chính vì vậy, hệ thống quản lý và báo động cấp cứu được áp dụng để “gánh” phần tổ chức và điều phối, giúp bác sĩ được “lười” đúng chỗ, giảm tối đa thủ tục hành chính và thao tác trung gian để bác sĩ có thể tập trung hoàn toàn vào chuyên môn.
Việc đưa hệ thống theo dõi thời gian thực vào vận hành giúp bác sĩ nắm bắt được tổng quan tình hình và các hoạt động chuyên môn chi tiết, tránh bỏ sót.
Việc đưa hệ thống theo dõi thời gian thực vào vận hành đã xử lý điểm nghẽn này. Trong những ngày công suất tăng gần gấp rưỡi, với khoảng 150 ca, toàn bộ trạng thái vận hành vẫn được kiểm soát liên tục.
Mỗi bệnh nhân có một mã riêng. Khi bác sĩ cần, chỉ cần truy cập vào hệ thống, thao tác trực tiếp trên phần mềm. Từ đó có thể thêm y lệnh điều trị, chăm sóc, can thiệp… Sau khi gửi lệnh, thông tin sẽ chuyển tới điều dưỡng phụ trách.
“Luồng dữ liệu được “chặn” theo từng khâu, bác sĩ ra lệnh, điều dưỡng phải xác nhận thực hiện thì mới hoàn thành. Nhờ đó, gần như không còn tình trạng bỏ sót. Ê-kíp có thể ưu tiên xử trí theo mức độ nguy kịch. Khi kết thúc ca, không còn câu chuyện phụ thuộc vào ghi nhớ cá nhân khi toàn bộ thông tin tồn đọng được hiển thị rõ ràng trên hệ thống”, Bác sĩ Ngô Đức Hùng lưu ý về điểm nhấn của hệ thống.
Trên giao diện, các y lệnh được mã hóa màu sắc dễ phân biệt. Ví dụ, những chỉ định còn thiếu hoặc chưa thực hiện sẽ hiển thị màu đỏ; các xét nghiệm, thuốc, hội chẩn đã hoàn thành sẽ chuyển sang màu xanh...

Trên giao diện, các y lệnh được mã hóa màu sắc.
Hệ thống hiện nay được “may đo” theo quy trình thực tế của bệnh viện, cho phép kích hoạt báo động đa chuyên khoa theo đúng thực tế vận hành phù hợp với số lượng nhân sự hữu hạn, áp lực bệnh nhân cao và đặc thù cấp cứu luôn biến động từng phút.
Khi không còn phải phân tâm bởi các thao tác nhỏ lặp đi lặp lại, bác sĩ có thể dồn toàn bộ sự tập trung vào đánh giá lâm sàng, ra quyết định và xử trí nguyên nhân bệnh, điều then chốt trong hoạt động cấp cứu.
Khi con người và khoa học công nghệ được kết hợp, việc tái phân bổ nguồn lực đã mang lại lợi ích lớn nhất cho bệnh nhân, dù nhập viện trong thời điểm quá tải vẫn có cơ hội được nhận diện đúng mức độ nguy kịch, được can thiệp đúng thời điểm và được bảo vệ cơ hội sống của mình.



























