Khai thác không gian biển - đột phá từ trụ cột kinh tế hàng hải
Báo Đại biểu Nhân dân giới thiệu loạt bài 'Khai thác không gian biển - đột phá từ trụ cột kinh tế hàng hải', gợi mở giải pháp đưa Việt Nam trở thành quốc gia biển giàu mạnh.
Lời tòa soạn: Làm việc với Ban Chính sách, Chiến lược Trung ương ngày 8/6/2026 về Đề án tổng kết Nghị quyết số 36-NQ/TW về Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đặt câu hỏi: "Khai thác không gian biển thế nào để phục vụ phát triển đất nước?". Đây là trăn trở mang tính thời đại, cũng là mệnh lệnh hành động với các ngành kinh tế biển; trong đó kinh tế hàng hải đóng vai trò hạt nhân, khơi thông toàn bộ dòng chảy thương mại và không gian phát triển quốc gia.
Nhằm góp phần giải bài toán lớn mà lãnh đạo Đảng, Nhà nước đặt ra, Báo Đại biểu Nhân dân giới thiệu loạt bài "Khai thác không gian biển - đột phá từ trụ cột kinh tế hàng hải” của TS. Bùi Thiên Thu, GS. Đại học Okayama, Nhật Bản; Phó Chủ tịch thường trực Hội Cảng, Đường thủy, Thềm lục địa Việt Nam; nguyên Cục trưởng Cục Đường thủy nội địa Việt Nam.
Loạt bài phân tích những mắt xích cốt lõi của hệ sinh thái hàng hải gồm đóng tàu, vận tải biển, cảng biển đến logistics, đồng thời làm rõ vai trò của nguồn nhân lực và cải cách thể chế; qua đó gợi mở giải pháp đưa Việt Nam trở thành quốc gia biển giàu mạnh trong kỷ nguyên mới.

Tàu chở dầu nhiên liệu tích hợp hệ thống nhiên liệu kép gồm LNG và WindWing - công nghệ cánh buồm cứng tận dụng sức gió để hỗ trợ lực đẩy của tàu do Công ty TNHH Đóng tàu HD Hyundai Việt Nam đóng mới. Ảnh: Tổng Công ty Công nghiệp Tàu thủy
Bài 1
Tự chủ đội tàu và công nghiệp tàu thủy - “bộ đôi” mở đường ra đại dươn
g
Vận tải biển và công nghiệp đóng tàu là hai mặt của một vấn đề. Muốn thực sự làm chủ không gian biển, Việt Nam không thể phát triển đơn lẻ mà phải kết nối hai mắt xích này thành một "bộ đôi" tự chủ chiến lược.
Nhìn lại hành trình 40 năm Đổi Mới, ngành hàng hải Việt Nam đã ghi dấu những bước tiến ngoạn mục. Từ một đội tàu thô sơ chưa đầy 0,5 triệu DWT vào năm 1986, đến nay lực lượng vận tải biển quốc gia đã bứt phá đạt trên 12 triệu DWT với gần 2.000 con tàu biển hiện đại, chưa kể hơn 3.000 con tàu pha sông biển. Song song đó, từ chỗ 40 năm trước chỉ làm công tác sửa, đóng tàu cỡ nhỏ, công nghiệp đóng tàu Việt Nam đã vươn lên TOP 10 thế giới với năng lực sản xuất khoảng 2,6 triệu tấn mỗi năm, tự chủ thiết kế và thi công các dòng tàu phức tạp trọng tải đến 8,7 vạn tấn.
Tuy nhiên, tại buổi làm việc ngày 14/7/2026 về phát triển công nghiệp hàng hải quốc gia, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã thẳng thắn chỉ ra: Năng lực của chúng ta tuy có tiềm năng lớn nhưng còn phân tán, thiếu kết nối; các khâu thiết kế, công nghiệp hỗ trợ, tài chính và nhân lực vẫn còn nhiều hạn chế. Vận tải biển và công nghiệp đóng tàu là hai mặt của một vấn đề. Muốn thực sự làm chủ không gian biển, Việt Nam không thể phát triển đơn lẻ mà phải kết nối hai mắt xích này thành một "bộ đôi" tự chủ chiến lược.
Đội tàu biển Việt Nam: từ quy mô đến chuẩn mực xanh
Thực tế hiện nay, dù đội tàu Việt Nam đã đảm nhận tốt thị phần vận tải nội địa và một số tuyến ngắn trong khu vực, nhưng thị phần vận tải hàng hóa xuất nhập khẩu trên các tuyến biển xa quốc tế vẫn còn rất khiêm tốn, chỉ chiếm trên dưới 5% tổng lượng hàng xuất nhập khẩu. Chúng ta đang chịu sự phụ thuộc lớn vào các hãng tàu nước ngoài trong các hành lang thương mại chủ lực.
Để bứt phá, đội tàu Việt Nam phải chuyển dịch mạnh mẽ về cơ cấu. Thay vì tiếp tục tập trung vào dòng tàu chở hàng rời hay bách hóa thô sơ, cần có chiến lược nâng cao tỷ trọng tàu chở container cỡ lớn, tàu chuyên dụng chở hóa chất, khí hóa lỏng và tàu dịch vụ ngoài khơi.
Mặt khác, ngành vận tải biển toàn cầu đang bước vào cuộc đua "xanh hóa" khốc liệt dưới áp lực của Tổ chức Hàng hải Quốc tế (IMO) với các chỉ số EEXI (Chỉ số năng lượng hiệu quả của tàu biển), CII (Chỉ số Cường độ Phát thải Carbon) và mục tiêu Net Zero. Nếu đội tàu Việt Nam không kịp thời chuyển đổi sang sử dụng nhiên liệu sạch (như Methanol, Ammonia, Điện/Hybrid) thì sẽ đối mặt với nguy cơ bị cấm cảng hoặc chịu mức thuế phát thải đắt đỏ. Việc hỗ trợ các chủ tàu trong nước tiếp cận nguồn vốn ưu đãi để nâng cấp, hoán cải hoặc đóng mới tàu xanh chính là điều kiện sống còn để duy trì năng lực cạnh tranh trên các hải trình quốc tế.
Muốn mở rộng và làm chủ không gian biển, không thể phát triển theo kiểu tự phát, manh mún, mà phải nhìn nhận hàng hải như một hệ sinh thái khép kín và liên hoàn.
Trong hệ sinh thái đó, đóng tàu là bệ đỡ cơ khí tự chủ; vận tải biển là lực lượng mở đường đưa hàng hóa vươn xa; cảng biển và cảng cạn là các nút giao kết nối hạ tầng và logistics là keo gắn kết tối ưu hóa toàn bộ chuỗi giá trị. Bốn mắt xích này đan xen, gắn kết chặt chẽ với nhau. Một quốc gia dù có đội tàu biển mạnh mà thiếu cảng nước sâu thì khai thác bế tắc, dù có cảng hiện đại mà đứt gãy hậu phương logistics thì chi phí giá thành hàng hóa tăng cao, còn vươn ra biển lớn mà phụ thuộc hoàn toàn vào mua tàu, thuê tàu của nước ngoài thì mất đi tính tự chủ chiến lược.
Tuy nhiên, cỗ máy hạ tầng phần cứng và phần mềm ấy dù được quy hoạch đồng bộ đến đâu cũng sẽ vắng bóng sức sống nếu thiếu đi nhân tố quyết định: con người. Đội ngũ thuyền viên, kỹ sư - công nhân đóng tàu, chuyên gia quản lý cảng và logistics đạt chuẩn quốc tế chính là linh hồn vận hành toàn bộ hệ thống. Đồng thời, để con người bứt phá và các mắt xích vận hành trơn tru, điều tiên quyết chính là đổi mới và cải cách thể chế, mở rộng tư duy quản lý, phân cấp phân quyền triệt để cho địa phương, phát huy nguồn lực tích lũy trong dân và mạnh dạn giao trọn cho khối tư nhân những gì ho làm tốt nhất.
Tái thiết công nghiệp tàu thủy: ngành công nghiệp hàng hải cốt cán
Không một quốc gia biển mạnh nào có thể tự chủ vận tải nếu phải đi mua hoặc phụ thuộc hoàn toàn vào cơ sở sửa chữa, đóng tàu của nước ngoài. Công nghiệp tàu thủy chính là "bệ đỡ" vững chắc cho lực lượng vận tải biển.
Điểm nghẽn lớn cần tháo gỡ hiện nay chính là xử lý dứt điểm các tồn đọng của Tổng Công ty Công nghiệp Tàu thủy (SBIC). Tinh thần chỉ đạo của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm là cần nghiên cứu, đánh giá trên cơ sở Luật Phá sản và Phục hồi 2025 để xử lý theo hướng thúc đẩy phục hồi; tuyệt đối không cấp vốn bù lỗ hay hợp thức hóa sai phạm. Quan trọng nhất là phải bảo tồn, khai thác có chọn lọc các tài sản, hạ tầng, công nghệ và lực lượng thợ kỹ thuật lành nghề có giá trị chiến lược, không làm mất đi năng lực công nghiệp quốc gia.

Từ một đội tàu thô sơ vào năm 1986, đến nay lực lượng vận tải biển quốc gia đã bứt phá đạt trên 12 triệu DWT với gần 2.000 con tàu biển hiện đại, chưa kể hơn 3.000 con tàu pha sông biển. Ảnh: Phúc Thái
Để phát triển toàn diện, ngành công nghiệp tàu thủy cần vận hành đồng bộ ở cả ba khâu.
Thứ nhất là đóng mới và xanh hóa. Ngành đóng tàu cần đi tắt đón đầu nghiên cứu, đóng mới các dòng tàu thế hệ mới sử dụng năng lượng thay thế; hình thành các doanh nghiệp đủ năng lực quản lý hợp đồng tổng thể (EPC) để đủ sức cạnh tranh xuất khẩu.
Thứ hai là sửa chữa và hoán cải xanh. Đây là mảng tạo dòng tiền ổn định. Cần kết nối nhu cầu sửa chữa của đội tàu biển trong và ngoài nước, phương tiện thủy nội địa… với các nhà máy trong nước; lấy các đơn hàng sửa chữa, hoán cải xanh làm đệm duy trì doanh thu và "giữ chân" đội ngũ kỹ sư, thợ đóng tàu tay nghề cao.
Thứ ba là phát triển công nghiệp phụ trợ, tự chủ thiết kế. Phải kiên quyết nâng cao tỷ lệ nội địa hóa. Muốn vậy, Nhà nước cần có chính sách quy hoạch các Cụm công nghiệp tàu thủy tập trung gắn với công nghiệp luyện thép phục vụ đóng tàu, chế tạo máy, sản xuất thiết bị, phụ kiện tàu biển; đồng thời làm chủ khâu thiết kế đáp ứng được yêu cầu của đăng kiểm và các tiêu chuẩn kỹ thuật.
Đổi mới thu hút FDI và phát triển cơ khí lưỡng dụng
Một định hướng đột phá mang tính chiến lược là đổi mới tư duy thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) trong lĩnh vực đóng tàu. Việt Nam không chấp nhận tiếp nhận các công nghệ lạc hậu hay biến các xưởng đóng tàu thành nơi gia công giá trị thấp. Thu hút FDI phải gắn liền với điều kiện chuyển giao công nghệ và cam kết kết nối, phát triển chuỗi cung ứng của các doanh nghiệp phụ trợ nội địa.
Bên cạnh đó, cần phát huy tối đa mô hình công nghiệp lưỡng dụng. Tăng cường kết nối năng lực đóng và sửa chữa tàu giữa các doanh nghiệp thuộc Bộ Quốc phòng với khối doanh nghiệp dân sự và đối tác quốc tế. Việc kết hợp sức mạnh quốc phòng với kinh tế không chỉ giúp tối ưu hóa công suất nhà xưởng, hạ giá thành sản xuất mà còn bảo đảm sự chủ động tuyệt đối về an ninh - quốc phòng trong mọi tình huống.
"Bộ đôi" vận tải biển và công nghiệp tàu thủy khi được tái thiết đồng bộ, xanh hóa và hiện đại hóa sẽ tạo nên một lực lượng mở đường mạnh mẽ. Tuy nhiên, những con tàu dù hiện đại đến đâu cũng cần những "tổ ấm" an toàn để bốc dỡ hàng hóa và hệ thống hậu cần thông suốt để đưa giá trị đi sâu vào đất liền, đó chính là sứ mệnh của cảng biển, cảng cạn và logistics.


























