Khắc khoải về làng gốm cổ Hương Canh
Từng có gần 400 hộ làm nghề, gốm Hương Canh (xã Bình Nguyên, tỉnh Phú Thọ) nay chỉ còn 4 hộ bền bỉ giữ lửa cho nghề gốm cổ. Được tạo nên từ nguồn đất trầm tích đặc biệt của địa phương, dòng gốm sành không men nổi tiếng bởi độ bền chắc và sắc màu trầm mộc mạc đang đối mặt với những khó khăn về đầu ra và nguy cơ thiếu người kế nghiệp.
Chất đất làm nên gốm Hương Canh trứ danh
Trong một buổi sáng mùa thu đầy nắng, chúng tôi tìm về làng gốm cổ Hương Canh. Qua những con ngõ nhỏ, dưới bàn tay người thợ, những khối đất nâu, đất sét sành dần được tạo hình thành chum, vại, bình, lọ và các tác phẩm nghệ thuật.
Đằng sau những sản phẩm tưởng chừng bình dị ấy là kinh nghiệm làm nghề được trao truyền qua nhiều thế hệ cùng nguồn nguyên liệu mang dấu ấn riêng của vùng đất.
Tại căn điếm cổ đầu làng, chúng tôi ghé thăm nhà bà Giang Thị Nhạn, nơi trưng bày những sản phẩm gốm đặc trưng của Hương Canh. Những chiếc chum, vại và bình gốm mang sắc nâu trầm gợi nhắc về thời kỳ làng nghề còn đông vui, khi nhiều gia đình sống bằng nghề làm gốm.
Bà Nhạn kể, nghề gốm không chỉ là kế sinh nhai mà còn là một phần ký ức gia đình. Cha bà từ Hà Tây cũ (xã Hoài Đức, TP Hà Nội ngày nay) sang Hương Canh làm thuê, làm mướn rồi gắn bó với nghề. Những kinh nghiệm của người thợ giỏi được tích lũy qua nhiều năm trực tiếp sản xuất, từ cách nhận biết tình trạng lò đến xử lý sự cố trong quá trình nung.
“Chúng tôi được các cụ kể lại làng nghề có trên dưới 400 năm. Bố tôi là một bậc thầy của làng gốm, cụ chỉ cần nghe tiếng lửa là biết được nhiệt độ trong lò như thế nào. Đặc biệt, cụ đi một vòng quanh lò có thể phán đoán tình trạng lò, nhận biết vị trí gặp sự cố và hướng dẫn cách xử lý”, bà Nhạn nhớ lại.

Ông Nguyễn Hồng Quang tỉ mỉ, chăm chút từng sản phẩm mới
Bà Nhạn học nghề từ năm 17 tuổi. Trong 5 người con của bà, có 2 người theo nghề. Với bà, việc con cháu tiếp tục làm gốm là cách để những kinh nghiệm của thế hệ trước được lưu giữ và phát huy.
Người con trai thứ hai của bà Nhạn, ông Nguyễn Hồng Quang, là một trong những người đang tìm hướng phát triển mới cho gốm Hương Canh. Khi chúng tôi tìm đến, ông đang tỉ mỉ tạo hình hoa sen trên sản phẩm mới chuẩn bị đưa đi triển lãm.
Cầm trên tay lọn đất đã được nhào nhuyễn, ông giải thích: “Chất đất làm gốm ở đây nhuyễn, dẻo. Đất phải có độ béo, độ dẻo thì người thợ mới tạo được những chi tiết tinh xảo. Nếu đất chưa được nhào nhuyễn, khi nung sản phẩm dễ bị nứt, gãy”.
Theo ông Quang, nguyên liệu làm gốm Hương Canh là đất trầm tích hình thành qua quá trình bồi lắng lâu dài của sông Cánh, một nhánh của sông Cà Lồ. Khu vực này có những lớp nguyên liệu khác nhau, trong đó có đất sét trắng, đất sét sành và đất sét nâu.
Đặc điểm của nguồn nguyên liệu tạo nên nét riêng cho gốm Hương Canh. Đất có độ mịn cao, khi được tạo hình và nung ở nhiệt độ thích hợp sẽ hình thành kết cấu chắc đặc, giúp sản phẩm bền và chịu lực tốt. Đặc biệt, gốm Hương Canh thuộc dòng gốm sành mộc, không tráng men nhưng vẫn có khả năng chứa nước, rượu và nhiều loại chất lỏng khác.
Theo ông Quang, gốm Hương Canh không chinh phục người dùng bằng vẻ bóng bẩy của lớp men phủ mà bằng màu sắc trầm, vẻ đẹp tự nhiên của chất đất và độ bền chắc. Để hoàn thiện một sản phẩm, người thợ phải am hiểu nguyên liệu, thành thạo kỹ thuật tạo hình và kiểm soát chặt chẽ quá trình nung.
Đất gốm có độ co ngót lớn nên khi làm sản phẩm kích thước lớn, nguy cơ cong vênh, nứt hoặc méo trong quá trình nung khá cao. Vì vậy, ngoài đôi tay khéo léo, người thợ cần nhiều năm tích lũy kinh nghiệm mới có thể làm chủ chất đất và lửa lò.
Khắc khoải với nghề
Nhắc về thời kỳ hưng thịnh, ông Quang cho biết giai đoạn từ năm 1954 đến năm 1986 là thời kỳ gốm Hương Canh phát triển mạnh. Khi ấy, gần 400 hộ trong làng cùng tham gia sản xuất theo mô hình hợp tác xã. Sản phẩm có đầu ra được bao tiêu, người thợ có điều kiện tập trung vào nghề truyền thống.
Sau khi cơ chế bao cấp chấm dứt, thị trường tiêu thụ thay đổi và làng gốm dần mất đi lợi thế. Các sản phẩm nhựa cùng vật liệu mới thay thế nhiều mặt hàng gia dụng truyền thống. Trong khi đó, chum, vại gốm có độ bền cao, ít phải thay mới nên nhu cầu mua sắm không còn thường xuyên như trước.
Không ít gia đình chuyển sang kinh doanh hoặc làm việc tại các nhà máy, khu công nghiệp để có thu nhập ổn định hơn. Lớp trẻ cũng ít mặn mà với công việc quanh năm gắn với đất, lửa và những công đoạn sản xuất vất vả.
Từ gần 400 hộ từng làm nghề, đến nay Hương Canh chỉ còn 4 hộ duy trì sản xuất. Sự thu hẹp này không chỉ phản ánh những khó khăn về kinh tế mà còn đặt ra nguy cơ đứt gãy quá trình truyền nghề vốn được duy trì qua nhiều thế hệ. Gia đình ông Quang là một trong số ít những gia đình vẫn kiên trì với nghề.
Ông kể, bố mẹ ông đều là những người thợ giỏi, đặc biệt có kinh nghiệm trong khâu đun, đốt lò. Những bí quyết ấy được tích lũy qua nhiều năm làm nghề, trở thành vốn quý mà thế hệ sau cần học hỏi để có thể tiếp tục sản xuất.
Giữ nghề không chỉ bằng tình yêu
Được đào tạo bài bản về mỹ thuật, ông Nguyễn Hồng Quang lựa chọn trở về với gốm quê hương, tìm hướng phát triển mới cho dòng sản phẩm truyền thống. Thay vì chỉ làm chum, vại theo kiểu dáng cũ, ông đưa tư duy tạo hình và ngôn ngữ nghệ thuật đương đại vào sản phẩm, hướng tới nhóm khách hàng ở các thành phố lớn.
“Gốm Hương Canh không chỉ là sản phẩm phục vụ đời sống mà còn lưu giữ tri thức về chất đất, kỹ thuật tạo hình và bí quyết nung được tích lũy qua nhiều thế hệ. Khi số hộ làm nghề ngày càng ít đi, việc bảo tồn những giá trị ấy đòi hỏi nỗ lực vượt ra ngoài phạm vi từng gia đình. Để nghề gốm có thể tiếp tục tồn tại, người thợ cần tìm được thị trường, tạo ra thu nhập ổn định và mở ra cơ hội để thế hệ trẻ tiếp nối nghề truyền thống”. Ông Nguyễn Hồng Quang
Theo ông Quang, muốn giữ nghề, người thợ phải giải được bài toán thị trường. Sản phẩm cần giữ đặc trưng của chất đất Hương Canh nhưng cũng phải đáp ứng nhu cầu sử dụng và thị hiếu hiện nay. Nếu không tạo ra thu nhập, người làm gốm khó có thể gắn bó lâu dài với nghề.
Tuy nhiên, đầu ra không phải nỗi trăn trở duy nhất. Giữa nhiều lựa chọn việc làm với thu nhập ổn định hơn, việc thuyết phục người trẻ tiếp nối nghề của cha ông cũng là thách thức lớn.

Những sản phẩm gốm do ông Nguyễn Hồng Quang chế tác
Anh trai ông Quang, ông Nguyễn Giang Anh, cũng cùng gia đình duy trì nghề gốm. Chia sẻ về chặng đường phía trước, ông Giang Anh bày tỏ: “Chúng tôi cố gắng giữ nghề, còn đời sau thì không thể biết được”.
Câu nói ngắn gọn ấy cho thấy nỗi băn khoăn của những người đang tiếp tục làm gốm. Họ có thể duy trì nghề bằng kinh nghiệm và sự bền bỉ của mình, nhưng tương lai của làng nghề vẫn phụ thuộc vào khả năng tìm đầu ra ổn định và sự tiếp nối của thế hệ sau.

