Hút ngoại lực phát triển kinh tế số
Theo đánh giá của các chuyên gia, kinh tế số tại Việt Nam đang phát triển nhanh, trở thành một động lực quan trọng của tăng trưởng. Năm 2025, tỷ trọng đóng góp của kinh tế số vào Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) ước đạt 14,02%, tương đương khoảng 72,1 tỷ USD.
Con số này cho thấy sức bật rõ nét của các lĩnh vực thương mại điện tử, dịch vụ số, công nghiệp phần mềm và các nền tảng số, phản ánh xu thế chuyển dịch mạnh mẽ của nền kinh tế trong bối cảnh chuyển đổi số toàn diện.
Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả tích cực, phát triển kinh tế số vẫn chưa tương xứng với tiềm năng và yêu cầu đặt ra. Năng lực nghiên cứu - phát triển trong nước còn hạn chế; mức chi cho nghiên cứu và phát triển mới đạt khoảng 0,4% GDP, còn thấp so với nhiều quốc gia trong khu vực và trên thế giới. Trong bối cảnh đó, việc phát huy vai trò của ngoại giao khoa học - công nghệ không chỉ là một lựa chọn, mà đã trở thành yêu cầu khách quan, tất yếu nhằm bổ sung nguồn lực, khắc phục những hạn chế nội tại và rút ngắn khoảng cách phát triển.
Nhận thức rõ vấn đề này, mới đây, tại cuộc làm việc với các Đại sứ, Trưởng cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài về tham dự Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, Tổng Bí thư Tô Lâm đã chỉ đạo phải ưu tiên cao độ cho ngoại giao kinh tế, ngoại giao khoa học - công nghệ. Theo đó, thời gian tới, các cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài cần phát huy vai trò tiên phong, chủ động hơn nữa trong kết nối, mở rộng thị trường, thúc đẩy chuyển giao công nghệ, hợp tác đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; trực tiếp đóng góp vào việc triển khai 11 công nghệ chiến lược, cũng như xúc tiến các dự án lớn, có tác động lan tỏa, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội đất nước.
Để hiện thực hóa chỉ đạo quan trọng này, cần bám sát Nghị quyết số 59-NQ/TƯ ngày 24-1-2025 của Bộ Chính trị về hội nhập quốc tế trong tình hình mới, Nghị quyết số 250/2025/QH15 của Quốc hội về một số cơ chế, chính sách đặc thù triển khai hội nhập quốc tế, đồng thời quán triệt sâu sắc các quan điểm, đường lối của Đại hội XIV của Đảng. Trên cơ sở đó, khẩn trương cụ thể hóa thành các chương trình, kế hoạch hành động rõ mục tiêu, rõ lộ trình, bảo đảm đưa nghị quyết nhanh chóng đi vào thực tiễn.
Các bộ, ngành, cơ quan chức năng cần chủ động nghiên cứu, đề xuất các cơ chế, chính sách đủ mạnh để thu hút trí tuệ và nguồn nhân lực chất lượng cao phục vụ chuyển đổi số quốc gia. Ngoại giao khoa học - công nghệ phải thực sự trở thành cầu nối chiến lược, gắn kết cộng đồng trí thức Việt Nam trên toàn cầu, thu hút chuyên gia quốc tế, huy động các nguồn lực tài chính xanh, công nghệ cao, phục vụ trực tiếp các dự án trọng điểm của đất nước. Cùng với đó, cần đẩy mạnh hỗ trợ kết nối các địa phương, doanh nghiệp, trường đại học trong nước với các đối tác quốc tế; chủ động huy động nguồn lực quốc tế cho phát triển công nghệ cao và đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao; tích cực vận động, thu hút các tập đoàn công nghệ hàng đầu thế giới cam kết mở rộng đầu tư, hợp tác xây dựng hệ sinh thái bán dẫn, trí tuệ nhân tạo, cũng như thúc đẩy chuyển giao công nghệ cho Việt Nam.
Để tận dụng hiệu quả các cơ hội từ hợp tác quốc tế, yêu cầu đặt ra là phải tiếp tục đổi mới, cải cách quyết liệt hơn nữa, tháo gỡ các rào cản về thể chế, đưa thể chế thực sự trở thành lợi thế cạnh tranh trong phát triển khoa học - công nghệ. Đồng thời, cần đặc biệt chú trọng nâng cao năng lực tổ chức thực hiện của các cấp, các ngành, các địa phương, bảo đảm chủ trương đúng được triển khai hiệu quả trên thực tế; xác định rõ người dân và doanh nghiệp vừa là chủ thể, vừa là đối tượng trung tâm phục vụ; các hoạt động đối ngoại phải lấy hiệu quả thực chất và mức độ hài lòng của người dân, doanh nghiệp làm thước đo.
Ngoại giao khoa học - công nghệ được triển khai một cách chủ động, bài bản và hiệu quả sẽ góp phần đưa khoa học - công nghệ và chuyển đổi số thực sự trở thành động lực then chốt, phục vụ mục tiêu phát triển nhanh, bền vững.































