Hương thu đi lạc vào hè

Buổi sáng, trời chợt đổ mưa. Đang ngồi ngẩn ngơ nhìn đất, nhìn trời thì chuông báo tin nhắn điện thoại rung lảnh lót: 'Chị ơi, em mua được ít thị trái mùa, chị sang uống trà nhé!'. 'Thị trái mùa á? Kiếm ở đâu thế! Chị sang ngay đây!'.

Đúng là thị trái mùa, nên mới có vào đầu tháng 5 âm lịch như thế này. Thường thì phải đến tháng ngâu mới là mùa thị. Vậy mới có bài ca dao “Tháng bảy ông thị đỏ da/ Ông mít chơm chởm, ông da rụng rời/ Ông mít đóng cọc đem phơi/ Ông da rụng rời đỏ cả chân tay”.

Những trái thị đầu mùa óng ả, thơm nức thường được mẹ mua về sau buổi chợ sớm. Mẹ dặn, chị nhường em, nên quả to, tròn trịa, mịn màng với cái tai cuống cong cong màu xanh sậm thường là phần cô em gái. Nâng niu quả thị vàng lấm tấm đốm xanh mơ trên tay, chị em tôi lập tức tìm dây, cắt cắt, đan đan để làm giỏ treo thị. Thị to thì đan giỏ to, thị nhỏ thì làm giỏ nhỏ. Bà nội có một cuộn len đỏ, loại len Vĩnh Thịnh sợi đôi để dành cho chị em tôi. Len được cắt thành những đoạn dài hơn hai gang tay, gập lại rồi thắt mắt võng nhỏ dần, sau cùng thì tết chặp ba chặp tư để làm quai giỏ. Đan xong thì bỏ quả thị vào ngắm nghía, nâng niu, hít hà một cách say mê.

Thị có nhiều loại, nhưng chơi thì thường chọn loại thị bánh xe nhỏ xinh, tròn bẹt, bé xíu xiu nằm vừa vặn, ngoan ngoãn trong lòng bàn tay. Nhưng ăn thì phải là loại thị to, dáng vẹo, nhiều thịt. Nhưng dù là loại nào thì thị vẫn thường là để ngửi, ngửi mê mải cho đến khi quả chín rục, vỏ ngả màu vàng sậm thì mới ăn được.

Ngày bé xíu tôi không dám ăn thị vì bà trêu “ăn thị thối mồm”. Lớn lên chút, thấy bạn bè ăn được nên cũng tò mò ăn theo. Hóa ra, quả thị ngon đáo để. Ruột thị vàng nhạt, mềm, ngọt, lùng nhùng bám chặt lấy cái hột to như ngón tay cái. Đứa nào ăn thị mồm miệng cũng lồng phồng hết cả lên. Gặm hết thịt, cái hột màu nâu đỏ hiện ra, chúng tôi lấy dao gọt sạch lớp vỏ ấy đi, rồi cho vào miệng ngậm như ngậm kẹo. Đôi lần háu ăn không chờ thị chín nhừ, tôi cắn liều một miếng thì chao ôi, vị chát ập đến xít chặt cả khoang miệng. Chút vội vã bồng bột ấy thế mà lại gieo vào lòng tôi bài học vỡ lòng về sự kiên nhẫn đợi chờ.

Cuộc sống bây giờ đổi khác, bóng dáng quả thị cũng thưa vắng dần. Trẻ con bây giờ có quá nhiều trò chơi nên chẳng còn mặn mà đến cái thú cặm cụi tết từng sợi dây đan giỏ thị. Thức quả vàng ươm, ngát hương ấy giờ cũng chỉ đắt hàng với những người vì luyến tiếc nét duyên xưa mà cất công lùng mua dăm ba quả về đặt nơi góc phòng.

Nhiều bận thủ thỉ câu chuyện đêm khuya, lũ trẻ của tôi ngác ngơ chẳng thể nào vờn vẽ ra được dáng hình tròn vạnh hay làn hương dịu ngọt của thức quả quê mẹ kể. Mãi cho đến một lần, tôi đưa các con về thăm Khu di tích lịch sử Lam Kinh, dừng chân đứng dưới bóng mát uy nghi tĩnh mặc để nghe cô hướng dẫn viên kể câu chuyện về “cây đa thị” hơn ba trăm năm tuổi. Nhìn vòng tay của cây đa cổ thụ khổng lồ ôm trọn lấy gốc thị rêu phong, và trong lớp bụi thời gian một mầm thị mới lại kiên cường vươn lên nảy lộc xanh tươi diệu kỳ, đôi mắt lũ trẻ bỗng sáng ngời lên rạng rỡ.

Nhưng cây thị, với những trái nhỏ, vàng thơm thì... vẫn là giấc mơ lẩn khuất ngoài tầm tay các con. Bởi lẽ, bước ra khỏi sự chở che của vùng đất thiêng ấy, thật khó tìm bóng dáng cây thị thân thuộc ngày xưa. Những cội thị làng quê phần lớn đã lần lượt ngã xuống nhường chỗ cho sự đổi thay. Những cây đang kỳ trổ quả cũng bị người ta đánh bầu, bứng cả gốc rễ mang đi trồng ở chốn biệt thự hay trang trại xa xôi nào đó.

Cũng như nhiều thức quả quê đã dần vắng bóng, trái thị lặng lẽ lui về miền cổ tích của riêng mình. May thay, sáng nay có chén trà và trái thị mùa hè của cậu em mang tới, để tôi biết rằng hương thị vẫn bâng khuâng thơm như ký ức hoa niên.

Minh Quyên

Nguồn Thanh Hóa: https://vhds.baothanhhoa.vn/huong-thu-di-lac-vao-he-43862.htm