Hòn Mê - từ trầm tích lửa đến màu xanh nơi đầu sóng
Từng hứng chịu hơn 4.200 quả bom và hàng chục nghìn quả rốc-két, Hòn Mê hôm nay xanh kín từ sườn núi xuống mép nước. Gần hai mươi năm trước, điện trên đảo chỉ sáng 4 tiếng mỗi tối, nước ngọt phải chắt chiu từng phần; hôm nay, cuộc sống đã khác. Giữa bốn bề nước mặn vẫn có một giếng nước ngọt; trong những vạt rừng, quýt hoi đến mùa lại tỏa mùi tinh dầu, đàn khỉ vẫn men xuống những vườn rau tăng gia.

Hòn Mê trong ánh chiều, nhìn từ khu vực cầu cảng.
Phía sau những tán cây là tọa độ lửa
Sóng dềnh lên thúc vào mạn tàu tiếp tế, tung bọt trắng dưới chân bãi đá Hòn Mê. Tôi bước lên đảo giữa một buổi sáng hừng nắng. Đón tôi ở cầu cảng là một khuôn mặt quen thuộc – Đại úy Hồ Tùng Dương, Chính trị viên phó Tiểu đoàn Hỗn hợp Đảo Mê.
Hơn một năm trước, Dương từng là người dẫn tôi đi qua những triền cát lộng gió ở đảo Nẹ, xã Vạn Lộc. Lần này, vẫn màu quân phục ấy, vẫn chất giọng trầm và gọn ấy, chúng tôi gặp lại nhau giữa Hòn Mê. Khi chuyến hải trình ra đảo gặp chút trục trặc, anh nói qua điện thoại một câu ngắn: “Có em ngoài đây rồi, chị yên tâm!”. Chỉ một câu vậy thôi cũng khiến tôi thấy vững bụng. Người cũ trên một hòn đảo còn mới với tôi, nên những bước chân đầu tiên cũng bớt đi phần xa lạ.
Đi sâu vào Hòn Mê, cây phủ những sườn núi đá vôi, len dọc các tuyến đường, ôm lấy khu doanh trại của Tiểu đoàn Hỗn hợp Đảo Mê, thuộc Ban Chỉ huy Phòng thủ khu vực 5 - Tĩnh Gia, Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh Thanh Hóa. Ở một khoảng sân, những chiến sĩ trẻ đang cắt tỉa hàng cây đã lên dáng. Người cầm kéo, người sử dụng máy cắt, người gom cành lá. Đi thêm một đoạn lại gặp vườn rau, những luống cây mới xuống giống và những khoảng cảnh quan đang được sửa sang. Từ điểm cao nhìn xuống, những mái nhà chỉ còn là những khoảng nhỏ giữa tán cây. Xa hơn, ngọn hải đăng nhô lên trên sườn đảo.

Các công trình trên Hòn Mê nằm lọt giữa những sườn cây xanh phủ kín đảo.
Ít ai nhìn màu xanh ấy mà hình dung được Hòn Mê từng là một trong những nơi hứng chịu bom đạn ác liệt trên vùng biển Thanh Hóa. Từ năm 1965 đến 1973, Hòn Mê hứng chịu 1.631 lượt tốp máy bay, 402 lượt tàu chiến, hơn 4.200 quả bom và hàng chục nghìn quả rốc-két. Bộ đội đảo cùng các lực lượng đã tham gia gần 2.000 trận chiến đấu, bắn rơi, bắn cháy 33 máy bay, bắn chìm, bắn cháy 18 tàu chiến Mỹ. Đại đội 21 phòng thủ Hòn Mê được phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang Nhân dân vào năm 1969.
Chiến tranh đã lùi xa, những sườn cây dần phủ lên dấu tích một thời bom đạn. Quanh doanh trại hôm nay, nhiều hàng cây được các thế hệ cán bộ, chiến sĩ nối nhau vun trồng, chăm sóc. Cây dài thì tỉa, cỏ mọc thì phát, vườn khô thì tưới. Những việc nhỏ cứ nối tiếp nhau, phủ xanh hòn đảo từng là tọa độ lửa.
Trong số những người gắn bó lâu năm với Hòn Mê, anh Nguyễn Văn Duẩn nhớ chính xác ngày mình lần đầu đặt chân lên đảo: 28/2/2007. Anh Duẩn quê ở xã Định Tân. Sau khi học chuyên ngành cơ khí tại Nha Trang, anh ra Hòn Mê nhận nhiệm vụ. Chuyến đi ấy mở đầu cho một quãng đời dài gắn với đảo, trước là những năm trực tiếp sống, công tác tại đây, sau này là những chuyến đi về phục vụ công việc tiếp tế từ đất liền. Trong ký ức của anh Duẩn, Hòn Mê những năm đầu anh ra nhận nhiệm vụ vẫn hiện lên từ những điều rất cụ thể: điện và nước.

Những con đường men theo sườn Hòn Mê chạy giữa thảm cây rừng dày đặc.
Điện khi ấy phụ thuộc vào máy phát. Sáu giờ tối, máy nổ. Mười giờ đêm, điện tắt. Bốn tiếng có điện là khoảng thời gian cán bộ, chiến sĩ tranh thủ học tập và giải quyết những công việc cần ánh sáng, điện năng. Sau 10 giờ đêm, đảo lại chìm vào bóng tối giữa tiếng sóng ngoài khơi.
Nước còn phải tính kỹ hơn. Nguồn sinh hoạt chủ yếu được hứng từ những trận mưa rồi tích vào bể. Từ tháng 3 đến tháng 5, trời ít mưa, lượng nước dự trữ vơi dần. Anh Duẩn kể có thời điểm anh em hai, ba ngày mới tắm một lần; phần có được trước hết dành cho ăn uống và những nhu cầu thiết yếu. “Có những lúc mỗi phần nước lấy ra đều phải tính xem dùng vào việc gì trước”, anh Duẩn nhớ lại.
Giữa hệ thống bể chứa ấy, Hòn Mê còn có một nguồn nước đặc biệt: chiếc giếng nước ngọt nằm giữa đảo. Những người sống lâu năm ở đây không biết chính xác giếng có từ bao giờ, mạch nước bắt đầu từ đâu. Anh Duẩn chỉ biết trong những năm mình gắn bó với Hòn Mê, anh chưa từng thấy giếng cạn. Vào mùa khô, khi lượng nước mưa tích trữ giảm, giếng trở thành nguồn bổ sung cho sinh hoạt, khu hậu cần và vườn rau.

Cắt tỉa cây xanh là một trong những công việc được cán bộ, chiến sĩ duy trì thường xuyên để giữ cảnh quan trên đảo.
Khoảng năm 2011-2012, hệ thống bể chứa tiếp tục được bổ sung. Anh Duẩn nhớ riêng giai đoạn này, đảo xây thêm hơn 30 bể. Dẫu vậy, nguồn nước sinh hoạt ở Hòn Mê đến nay vẫn phụ thuộc đáng kể vào nước mưa; những đợt nắng nóng kéo dài vẫn đòi hỏi phải tiết kiệm và chủ động dự trữ.
Điều kiện sinh hoạt trên đảo từng bước được cải thiện. Khoảng năm 2020, hệ thống điện năng lượng mặt trời được đầu tư. Đảo có điện suốt ngày, quạt có thể chạy lâu hơn, ti vi đưa tin tức từ đất liền ra đảo, còn điện thoại giúp những người lính nhìn thấy vợ con qua màn hình. Nhà cửa, nơi ăn ở và sinh hoạt cũng dần được xây dựng, sửa sang.
Riêng tăng gia đã là một phần trong đời sống của bộ đội Hòn Mê từ nhiều năm trước khi anh Duẩn ra đảo. Người trước gây dựng, người sau tiếp tục. Đến lớp cán bộ, chiến sĩ của anh, những vườn rau vẫn được chăm theo mùa. Việc tự xay xát gạo, làm giá, làm đậu phụ và chăn nuôi thêm gà, dê, bò, lợn vẫn được duy trì để cải thiện bữa ăn.

Cán bộ, chiến sĩ thu gom rác theo sóng dạt vào bờ, giữ sạch khu vực ven đảo.
Cuộc sống của anh Duẩn cũng thay đổi theo những năm tháng ấy. Từ năm 2020, công việc của anh gắn nhiều hơn với Trạm Đảo Mê ở phường Hải Bình - nơi anh tham gia bảo đảm hàng hóa, nhu yếu phẩm phục vụ đảo. Gần hai mươi năm gắn bó với Hòn Mê không có nghĩa anh sống liên tục trên đảo. Có những giai đoạn công việc đưa anh trở về đất liền, rồi những chuyến tiếp tế lại đưa anh ra đảo. Chừng ấy thời gian đủ để anh nhớ một Hòn Mê mỗi tối chỉ có bốn tiếng điện và một Hòn Mê hôm nay. Đủ để nhớ cả mùi của một mùa cây.
Vạt rừng có mùi quýt hoi và những “hàng xóm” đặc biệt
Trong những điều anh Duẩn nhớ về Hòn Mê có quýt hoi, loại cây vốn quen thuộc ở một số vùng miền núi Thanh Hóa nhưng trên hòn đảo giữa biển cũng mọc thành từng vạt. Ai mang giống ra, những cây đầu tiên có mặt từ bao giờ, những người tôi hỏi đều chưa có câu trả lời chắc chắn. Cây cứ thế sống qua nắng, mưa, hơi muối và những đợt gió biển rồi trở thành một phần của thảm thực vật Hòn Mê.

Đàn khỉ sinh sống trong những vạt rừng Hòn Mê, thỉnh thoảng tìm xuống khu vực tăng gia của bộ đội.
Anh Duẩn nhớ nhất mùa quả chín. Khi ấy, tinh dầu từ vỏ tỏa ra một mùi rất riêng. Có những ngày đi qua khu vực nhiều cây, anh có thể nhận ra hương quýt phảng phất trong không khí. Vào mùa đông, khi độ ẩm trên đảo cao hơn, mùi ấy càng rõ. Mỗi lần có dịp trở về đất liền, một số người lính lại mang theo ít quả về ngâm với mật ong để dùng khi người nhà bị ho. Từ Hòn Mê, món quà theo người lính về nhà đôi khi chỉ giản dị như vậy.
Đi sâu hơn vào những vạt cây trên đảo, người ta còn bắt gặp lá đắng - thứ lá quen thuộc trong bữa ăn của nhiều vùng xứ Thanh. Xen giữa đó là phong ba, bàng và những loài cây đã thích nghi với gió biển, hơi muối. Những con đường men theo sườn núi có đoạn gần như lọt giữa hai phía rừng.
Trong những tán cây ấy, khỉ đã trở thành hình ảnh quen thuộc với người ở đảo. Theo những người sống lâu năm, trước đây khỉ ít hơn; vài năm gần đây, chúng xuất hiện nhiều quanh khu vực cán bộ, chiến sĩ sinh hoạt. Những cành cây trên cao thành lối đi, còn khu tăng gia thường là nơi chúng tìm xuống.
Dương cười khi kể về cuộc “đấu trí” giữa bộ đội và đàn khỉ. Anh bảo chúng được bảo vệ nên khá dạn người. Mùa hè, những cây ăn quả vừa vào vụ đã phải để mắt, bởi nhiều khi quả chưa kịp đến ngày thu hoạch, đàn khỉ đã tìm xuống hái trước. Mùa đông, đến lượt những luống bắp cải phải canh chừng. Chỉ cần khu vườn vắng người một lúc, chúng đã vặt bắp cải, ôm chạy vào rừng. “Canh không xuể”, Dương cười.

Những khoảng xanh quanh nơi ở được cán bộ, chiến sĩ Hòn Mê chăm chút mỗi ngày.
Thế là, vườn rau của mình, anh em lại tìm cách rào chắn, trông nom. Kỳ đà thì hiền hơn. Chúng thỉnh thoảng xuất hiện quanh khu vực doanh trại, đi qua khoảng sân rồi lại mất hút vào cây rừng. Dương tả bằng một câu rất hình ảnh: “Nó cứ thong dong đi như trong công viên”.
Đi hết những sườn cây xuống mép nước, một phần việc khác lại bắt đầu. Chai nhựa, mảnh xốp theo sóng mắc lại giữa các bãi đá. Những chiến sĩ trẻ cúi xuống nhặt từng thứ, gom lại để xử lý. Dương nói: “Ở đảo không có rác đâu chị. Có tí nào dạt vào bờ, sáng anh em dọn là vớt hết. Rác sinh hoạt xử lý theo quy định. Những đợt bão, rác vào nhiều hơn thì sau bão lại tổng vệ sinh”.
Dương nói nhẹ như kể chuyện quét một khoảng sân mỗi sáng. Biển không có hàng rào, nên có những thứ trôi đến Hòn Mê từ một nơi rất xa. Việc dọn bờ cứ thế nối vào những giờ huấn luyện, trực gác, tăng gia và nhịp sinh hoạt thường ngày.
Ra ngoài những bãi đá, những lồng nuôi cá nằm rải trên mặt biển, tàu thuyền nối Hòn Mê với bờ Nghi Sơn. Quanh đảo, nhịp sống cũng mở ra cùng những chuyến tàu chở người, hàng hóa và nhu yếu phẩm đi về mỗi ngày. Đến mùa quýt chín, đôi khi trên chuyến tàu trở về có thêm vài quả quýt hoi. Mùi quýt từ đảo lại theo người lính về nhà...
