Hồi sinh hồn giấy giữa đại ngàn
Trong căn nhà truyền thống của người Dao Tiền ở bản Sưng (xã Cao Sơn, Phú Thọ), nghệ nhân Lý Văn Hềnh (70 tuổi) nhẹ tay mở từng cuốn sách cúng đã ngả màu thời gian. Bên cạnh ông, chị Lý Seo Mai (38 tuổi) chăm chú dõi theo những trang giấy dó mỏng, dai, nơi nét chữ Nôm Dao của cha ông vẫn còn nguyên vẹn. Hai thế hệ, hai câu chuyện, đang trở thành sợi dây nối ký ức của cha ông với đời sống hôm nay.
Tìm lại nghề xưa
Từ xa xưa, người Dao Tiền đã dùng giấy dó để ghi chép sách cúng, sách hát, gia phả bằng chữ Nôm Dao. Những cuốn sách ấy được truyền từ đời này sang đời khác, lưu giữ tri thức dân gian của dân tộc. Giấy dó còn được dùng trong lễ cấp sắc, ma chay, cưới hỏi, tết nhảy, thanh minh… “Với chúng tôi, giấy dó là nơi lưu giữ linh hồn tổ tiên. Nếu không còn giấy dó thì không còn sách cúng, không còn lễ nghi đúng nghĩa và một phần ký ức của dân tộc sẽ mất đi”, nghệ nhân Lý Văn Hềnh chia sẻ.
Ẩn mình bên núi Biều, bản Sưng là nơi sinh sống của 37 hộ người Dao Tiền, từ lâu được biết đến là điểm đến du lịch cộng đồng với cảnh quan nguyên sơ và bản sắc văn hóa đậm nét. Nơi đây còn lưu giữ một nghề thủ công hàng trăm năm tuổi.
Bước trên con đường bản Sưng, hai bên là những cây dó xanh mướt, tỏa bóng mát, chị Lý Seo Mai cho hay, ở bản Sưng, cây dó vốn gắn bó với đời sống đồng bào Dao Tiền từ bao đời. Người xưa bóc vỏ cây, chế tác thành những tờ giấy bản bền, dai để viết chữ, chép kinh cúng, vẽ tranh thờ. Cây dó còn được trồng xen canh làm ranh giới phân chia đất đai giữa các gia đình.

Nghệ nhân Lý Văn Hềnh đang lật từng cuốn sách cổ viết bằng giấy dó mà người xưa để lại.
Thế nhưng, cùng với sự xuất hiện của giấy công nghiệp, nghề làm giấy dó dần bị lãng quên. Có thời điểm, cây dó bị chặt làm củi hoặc làm thức ăn cho gia súc. Trong bản chỉ còn vài hộ giữ nghề, chủ yếu để phục vụ nhu cầu tín ngưỡng. Suốt hơn 50 năm, nghề làm giấy dó gần như biến mất khỏi đời sống thường nhật.
Bước ngoặt đến vào năm 2017, khi bản Sưng phát triển du lịch cộng đồng. Những câu hỏi của du khách về cây dó và nghề làm giấy truyền thống khiến nhiều người trong bản trăn trở. Từ những cuộc trò chuyện ấy, chị Lý Sao Mai cùng chồng là anh Triệu Phúc Thìn bắt đầu ấp ủ kế hoạch khôi phục nghề cũ.
Hành trình ấy không dễ dàng. Gia đình chị phải tìm đến các nghệ nhân để học lại kỹ thuật, mời người có kinh nghiệm từ Bắc Ninh về truyền dạy, đồng thời dành thời gian nghiên cứu từng công đoạn đã bị mai một. “Sau nhiều lần thử nghiệm, đến năm 2024, những tờ giấy dó hoàn chỉnh đầu tiên đã được làm thành công, đánh dấu sự trở lại của một nghề truyền thống tưởng như đã mất”, chị Mai cho hay.
11 công đoạn cho một tờ giấy
Khác với giấy công nghiệp, giấy dó của người Dao Tiền được làm hoàn toàn bằng phương pháp thủ công. Nguyên liệu chính là vỏ cây dó mọc tự nhiên trong rừng, có lớp vỏ dày với nhiều xơ sợi dài và dai.
Sau khi bóc, vỏ cây được ngâm nước vôi ít nhất ba tháng để loại bỏ nhựa và làm mềm sợi. Tiếp đó là các công đoạn luộc, giã hoặc xay nhuyễn, lọc bỏ tạp chất bằng “liềm seo”, rồi seo giấy, ép nước, phơi khô và phân loại. Toàn bộ quy trình gồm 11 công đoạn liên tiếp, đòi hỏi sự kiên nhẫn và độ chính xác cao. Chị Mai cho hay, người thợ chỉ cần đổ khuôn không đều tay, cả mẻ giấy có thể bị hỏng. Không sử dụng hóa chất, giấy dó có màu tự nhiên, bề mặt xốp, mịn, dai và thấm hút tốt. Khi viết, mực bám chắc, không nhòe và có thể lưu giữ hàng trăm năm.

Du khách trải nghiệm làm giấy dó.

Chị Lý Seo Mai, người khôi phục nghề làm giấy dó ở bản Sưng.
“Chính những đặc tính ấy khiến giấy dó trở thành chất liệu quý để viết tay, vẽ tranh dân gian, thư pháp hay in ấn thủ công. Nhưng với người Dao Tiền ở bản Sưng, giá trị của giấy còn nằm ở những gì nó lưu giữ: chữ viết, sách cúng, nghi lễ và ký ức của cộng đồng”, chị Mai chia sẻ.
Khi nghề cũ trở thành sinh kế mới
Khôi phục được kỹ thuật làm giấy mới chỉ là bước đầu. Để nghề có thể sống trong đời sống hiện đại, người dân bản Sưng tìm cách đưa sản phẩm ra thị trường.
Chị Lý Sao Mai cho biết, trước đây chỉ vài hộ còn giữ nghề, nhưng đến nay đã hình thành tổ sản xuất với 14 thành viên. “Chúng tôi không chỉ làm giấy truyền thống mà còn sáng tạo nhiều sản phẩm như sổ tay, bưu thiếp, đèn lồng, hoa tai… để phục vụ khách du lịch. Người trẻ trong bản cũng bắt đầu học nghề và tham gia sản xuất”, chị Mai chia sẻ.
Nhờ sự hỗ trợ của chính quyền địa phương, các tổ chức đoàn thể và cộng đồng du lịch, người dân được tập huấn kỹ thuật, hỗ trợ vật tư, thiết bị và kết nối tiêu thụ sản phẩm. Những tờ giấy dó mộc mạc ngày nào giờ đã có mặt tại Hà Nội, Bắc Ninh cùng nhiều địa phương khác, góp phần tạo việc làm và thu nhập ổn định cho nhiều hộ dân.
Nghề giấy dó cũng trở thành một phần của hoạt động du lịch cộng đồng. Du khách đến bản Sưng không chỉ nghỉ tại các homestay mà còn có thể trực tiếp trải nghiệm một số công đoạn làm giấy, tự tay seo giấy, vẽ tranh hoặc viết thư pháp trên những tờ giấy dó vừa hoàn thành.
“Người dân bản Sưng chúng tôi đang viết tiếp câu chuyện về bản sắc dân tộc bằng chính đôi bàn tay của mình. Sự hồi sinh của nghề giấy dó không chỉ tạo thêm sinh kế từ du lịch cộng đồng mà còn khẳng định rằng, khi cộng đồng cùng chung tay gìn giữ di sản, những giá trị tưởng đã ngủ quên vẫn có thể bừng tỉnh và tiếp tục sống cùng thời đại”. Chị Lý Sao Mai
Trong chuyến du lịch cuối tuần đến bản Sưng, chị Nguyễn Hồng Nhung, du khách đến từ Hà Nội, không giấu được sự thích thú. “Tôi thực sự bất ngờ khi chứng kiến quy trình làm giấy dó hoàn toàn thủ công, tỉ mỉ đến từng chi tiết. Mỗi tờ giấy là kết quả của cả một quá trình lao động kỳ công, từ ngâm vỏ cây, giã xơ đến đổ khuôn và phơi nắng. Đó là một sản phẩm rất ý nghĩa, được kết tinh từ thiên nhiên và bàn tay con người”, chị Nhung chia sẻ.
Chị Đặng Thị Ngọc, thành viên tổ sản xuất, cho biết mỗi năm tổ sản xuất có doanh thu hơn 1 tỷ đồng. Thu nhập từ việc làm giấy dó, mỗi thành viên đạt từ 6 đến 7 triệu đồng/tháng. Đây là nguồn thu nhập ổn định, giúp nâng cao đời sống cho các thành viên.
Ông Lý Văn Hềnh nói, giữa nhịp sống hiện đại, sự trở lại của nghề làm giấy dó ở bản Sưng mang nhiều ý nghĩa hơn việc khôi phục một nghề thủ công. Đó là hành trình gìn giữ ký ức văn hóa của người Dao Tiền, đồng thời tạo thêm sinh kế từ du lịch cộng đồng.
