Hồi kết của TV Nhật Bản
Từ việc thống trị ngành TV toàn cầu trong hàng chục năm, hiện Nhật Bản gần như không còn hãng nào tự sản xuất.

Từng thống trị ngành TV toàn cầu, áp đảo về thị phần và dẫn đầu công nghệ, Nhật Bản đứng trước nguy cơ không còn hãng nào sản xuất mảng này. Lần lượt từng ông lớn rời khỏi cuộc chơi, bán mình hoặc nhượng quyền thương hiệu cho đối tác nước ngoài.
Bất chấp giá trị thương hiệu và lòng tin của người dùng ở nhiều quốc gia, doanh số thực tế và hàm lượng công nghệ của những công ty này không còn có thể cạnh tranh. Sai lầm chiến lược trong việc lựa chọn giải pháp màn hình phẳng hay sự thiếu đổi mới đã đẩy Sony, Sharp, Toshiba hay JVC khỏi mảnh đất họ từng dẫn đầu.
Thời kỳ thống trị
Thập niên 80-90 của thế kỷ trước, các hãng Nhật Bản nổi lên và thống lĩnh gần như tuyệt đối trên bản đồ điện tử thế giới. Khoảng những năm 1980, Nhật Bản đã vượt qua Mỹ, trở thành quốc gia chế tạo và xuất khẩu TV màu lớn nhất thế giới.
Thành công này đến từ nền tảng công nghệ vượt trội. Dù người Mỹ phát minh ra TV, các công ty Nhật Bản mới thật sự hoàn thiện nó. Năm 1968, Sony giới thiệu công nghệ ống phóng tia điện tử (CTR) Trinitron. Khác với giải pháp Shadow Mark (mặt nạ lỗ) của đối thủ, hãng Nhật dùng lưới khẩu độ cho phép luồng điện tử đi qua nhiều hơn, hình ảnh sáng, nét và sống động hơn. Trinitron thành tiêu chuẩn TV toàn cầu trong suốt 30 năm. Sony dễ dàng định giá cao hơn đối thủ 30-50% mà vẫn cháy hàng.

Những chiếc TV Sony Trinitron từng giúp hãng Nhật Bản thống trị hàng chục năm. Ảnh: Reddit.
Tương tự, các hãng Nhật Bản khác cũng có nền tảng R&D nổi bật, tạo ra vũ khí cạnh tranh cho riêng mình. Panasonic (tiền thân là Matsushita) nổi tiếng với quy trình tối ưu và độ bền “nồi đồng cối đá”. Sharp từ những năm 1980 đã phát triển LCD (tinh thể lỏng) và là cha đẻ của công nghệ này. Toshiba, Hitachi dẫn đầu công nghệ xử lý tín hiệu, bán dẫn TV.
Trong giai đoạn thống trị, các công ty Nhật Bản cho phát triển theo chiều dọc. Mô hình ưu tiên chế tạo nội bộ, từng linh kiện bên trong đều do hãng tự sản xuất. Điều này giúp họ kiểm soát chất lượng chi tiết, tối ưu hóa lợi nhuận ở từng khâu và giữ bí mật công nghệ. Ở giai đoạn analog, nơi cơ khí chính xác và chất lượng vật liệu là chìa khóa quyết định, Sony, Sharp hay Toshiba thể hiện sức mạnh toàn cầu.
Sự thành công trong thời gian dài của hãng Nhật Bản còn định vị họ ở vị trí cao ở người dùng nhiều nước. Tại các thị trường đang phát triển như Trung Quốc, Đông Nam Á, Mỹ Latinh, việc sở hữu một chiếc TV màu Sony hay Panasonic trở thành biểu tượng của sự thành đạt.
Giai đoạn sai lầm
Ngành TV Nhật Bản không sụp đổ sau một đêm mà đến từ những vết nứt nhỏ, xuất hiện vào những năm đầu của thiên niên kỷ. Giai đoạn này chứng kiến sự chuyển dịch từ CRT sang màn hình phẳng. Các công ty Nhật Bản vấp ngã trước sự trỗi dậy mạnh mẽ từ Samsung và LG.
Khi kỷ nguyên CRT kết thúc, các hãng TV phải chọn đặt cược vào LCD hoặc Plasma. Các kỹ sư của Panasonic, Pioneer và Hitachi tin rằng Plasma mới là tương lai của TV màn hình lớn. Nó cung cấp tương phản tốt, màu đen sâu và góc nhìn rộng. Họ đầu tư hàng tỷ USD vào giải pháp này.

TV Plasma là lựa chọn sai lầm của các hãng Nhật Bản. Ảnh: Abt.
Samsung và LG cũng sản xuất Plasma, nhưng nhìn thấy rõ tiềm năng từ LCD. Dù xuất phát điểm thấp hơn về chất lượng, công nghệ tinh thể lỏng dễ sản xuất và đa dụng hơn. Càng về sau, những điểm yếu của LCD cũng được khắc phục trong khi giá rẻ nhanh chóng và tiếp cận người dùng dễ dàng.
Ở phía ngược lại, Plasma với cấu trúc nặng nề, khó cắt giảm chi phí dẫn đến việc sản phẩm luôn đắt hơn đối thủ. Những công ty chọn giải pháp này chịu thua lỗ nặng nề, giống như Panasonic. Pioneer cũng khai tử dòng Kuro Plasma và khai tử mảng sản xuất này vào năm 2010.
Trong cùng giai đoạn, các đối thủ Hàn Quốc mở rộng sản xuất, tối ưu dây chuyền và tập trung vào thiết kế thay vì yếu tố độ bền hàng chục năm như công ty Nhật Bản. TV Samsung, LG có viền mỏng, kiểu dáng sang trọng. Đến những năm 2000, Samsung chính thức vượt qua Sony, trở thành nhà sản xuất lớn nhất thế giới. Ông lớn này tiếp tục giữ vị trí dẫn đầu suốt hơn 20 năm qua.
Không còn hãng TV "thuần" Nhật
Đầu tư kém hiệu quả, mất khả năng cạnh tranh, các hãng điện tử Nhật Bản dần từ bỏ mảng kinh doanh TV. Bên thu mua chủ yếu là những ông lớn mới nổi từ Trung Quốc. Những nhà sản xuất này sở hữu lợi thế thị trường, dây chuyền sản xuất nhưng không có danh tiếng đủ lớn. Bằng cách sở hữu các hãng Nhật Bản hết thời, họ tiếp cận các thị trường quốc tế dễ hơn.
Năm 2016, Sharp trở thành công ty điện tử lớn đầu tiên của Nhật Bản bị bán cho nước ngoài. Dưới sự điều hành của Foxconn, Sharp đã phải đóng cửa nhà máy Sakai huyền thoại vào năm 2025 vì không thể cạnh tranh với Trung Quốc.

Sony phân tách mảng TV, chia sẻ với TCL đặt dấu chấm hết cho ngành này của Nhật Bản. Ảnh: Reuters.
Năm 2017, Hisense đã mua lại 95% cổ phần của Toshiba Visual Solutions (mảng TV của Toshiba) với giá khoảng 113 triệu USD. Thương vụ này cho phép Hisense sở hữu thương hiệu TV "Regza" nổi tiếng tại Nhật Bản. Tại Việt Nam, vẫn còn TV Toshiba được phân phối. Tuy nhiên, sản phẩm chủ yếu tập trung ở phân khúc trung cấp, giá rẻ, được sản xuất bởi Hisense.
Gần đây nhất, Sony vừa công bố kế hoạch tách mảng kinh doanh thiết bị giải trí gia đình (bao gồm TV), thành lập liên doanh mới cùng TCL. Thông báo ngày 20/1 cho biết hai bên đã ký thỏa thuận không ràng buộc về liên doanh, TCL giữ 51% cổ phần và Sony nắm 49%.
Những thương hiệu khác cũng bị nhượng quyền để bán ở một số thị trường, không còn liên quan đến gốc gác Nhật Bản. Hitachi cấp phép cho Vestel của Thổ Nhĩ Kỳ làm TV, bán ở châu Âu. Họ cũng hợp tác với Roku ở Bắc Mỹ nhưng hiện diện mờ nhạt.
JVC cũng bị chia nhỏ cho các OEM sử dụng logo. AmTRAN (Đài Loan) sản xuất để bán đến Bắc Mỹ, trong khi Vestel sản xuất cho châu Âu.
Riêng Panasonic vẫn còn giữ mảng kinh doanh này và ra mắt sản phẩm mới. Tuy nhiên, mô hình tự sản xuất của công ty này không còn. Nhiều nguồn tin tiết lộ hãng Nhật Bản đã chuyển giao cho các OEM Trung Quốc.

































