Hoài niệm chổi rơm
Mỗi lần lên nhà tôi chơi, ngoài rau củ quả vườn nhà, đôi ba chục trứng gà, bố tôi luôn mang theo vài cái chổi rơm nếp. Cu Thóc vô cùng thích thú với cái chổi rơm. Nó bắt chị đội mũ, đeo mặt nạ, khăn choàng để cưỡi chổi chạy khắp nhà. Trong tâm trí trẻ thơ, cu Thóc nghĩ cây chổi ông nội mang lên sẽ giúp nó bay lên không trung như cậu bé phù thủy Harry Potter.
Cầm chiếc chổi thơm mùi rơm nếp, chứa đựng cả những giọt mồ hôi của mẹ ngồi tuốt từng ngọn rơm, bố bện từng đọn nhỏ, trong tôi trào lên bao niềm xúc cảm, hoài niệm về quê nhà, về những năm tháng tuổi thơ.
Ở làng, nhà nào có đống rơm to chắc chắn là nhiều ruộng. Sau vụ gặt, gốc rạ, rơm tẻ được lên đống để đun bếp, làm thức ăn cho trâu bò. Nhiều nhà còn bện rơm làm đệm ngủ mùa đông. Bọn trẻ con chúng tôi ngày xưa ở làng mê nhất trò chơi trận giả, chơi trốn tìm ở sân hợp tác. Có đứa trong lúc đi trốn, rúc vào đống rơm ngủ quên khiến bố mẹ hốt hoảng tìm khắp xóm, cùng làng.

Ảnh minh họa.
Mùa gặt, từ ngoài đồng cho đến đường làng, chỗ nào cũng thơm mùi rơm. Rơm lúa tẻ thường để nguyên cả con đai hoặc rũ ra phơi rối cho nhanh khô rồi chất đống. Riêng rơm nếp được tận dụng để bện chổi quét nhà.
Lúa nếp khi gặt bao giờ cũng cắt sát gốc rạ. Tôi và bố tay khỏe luôn nhận phần việc xén gốc rạ tách lấy phần thân lúa phơi khô tự nhiên để cọng rơm cứng, không bị dập ngọn. Sau khi tuốt lúa, những bó rơm nếp được treo lên những cây sào hay bờ tường cao, đến khi khô kiệt mới đem cất vào trong buồng để dùng dần.
Tôi còn nhớ năm nào gặt xong mà mưa nhiều, không phơi được rơm, mẹ tôi thường than thở: “Mưa gió thế này cuối năm lấy đâu ra rơm để bện chổi đây?”. Nếu gặt xong mà trời nắng to, ai cũng vui vì phơi thóc, phơi rơm gọn ghẽ, nhanh chóng.
Vào những ngày mưa không đi làm đồng, mẹ tôi lại mang rơm nếp ra tuốt cọng để bện chổi. Từng bó rơm khô được kê lên thớt gỗ chặt bỏ hết phần đốt cho dễ tuốt. Mấy anh em tôi sau khi làm xong bài tập về nhà được mẹ chia cho vài bó để rút lõi. Phần thưởng của mẹ chính là lời khen cho đứa nào tuốt lõi nhanh, bó gọn gàng từng lọn rơm vàng để bố mẹ bện chổi.
Công việc tuốt rơm tuy nhẹ nhàng song đòi hỏi sự kiên trì. Tuốt hết 5 bó rơm nếp to thì mới đủ lõi rơm làm một chiếc chổi. Nếu lúa nếp được mùa, thân cao, không đổ gãy, rơm phơi đủ nắng thì năm ấy bố mẹ tôi sẽ bện được những chiếc chổi thật đẹp và bền, màu rơm vàng óng.
Mỗi lần ngồi tuốt rơm, tôi thường ngâm nga: Một sợi rơm vàng, hai sợi vàng rơm. Bố bện chổi to, mẹ làm chổi nhỏ. Chổi to mẹ quét sân kho. Ấy còn chổi nhỏ để dành em bé chăm lo quét nhà.
Mẹ hay khen bố tôi khéo tay, mỗi cây chổi ông bện, ngọn chổi đều tăm tắp. Từng lọn rơm đan cài vào nhau tự tạo thành lõi chổi và vòng dây siết xung quanh từ dưới lên trên, từ trong ra ngoài. Khi đủ kích thước, đầu chổi được thu lại, nêm thêm chiếc chốt tre già làm móc, áo chổi được cắt gọn gàng, khi ấy xong một chiếc chổi thành phẩm.
Những đoạn rơm ngắn không bện được chổi, bao giờ bố tôi cũng xếp riêng ra rồi bó gọn lại thành một cây chổi nhỏ để phủi bụi trên ban thờ. Đầu tháng Chạp, cây chổi nhỏ đó được buộc chặt vào thanh tre để quét vôi ve lại nhà, chuẩn bị đón năm mới.
Phần vỏ rơm, lõi rơm nếp thừa mẹ tôi thường cho vào thau đồng để đốt lấy tro rồi cẩn thận cất gọn để cuối năm bao sái ban thờ, bổ sung tro vào bát hương.
Những năm bao cấp, ở nông thôn, cùng với những vật dụng quen thuộc như rổ, rá, giần, sàng…, nhà nào cũng có dăm ba cái chổi lúa dựng ở góc sân, treo trên cột hiên nhà. Chổi ngắn quét nhà, chổi cán dài quét sân, quét thóc.
Hồi học phổ thông, tôi luôn được cô chủ nhiệm phân công làm lớp phó phụ trách lao động. Các lớp ngoài việc hằng ngày làm vệ sinh lớp học sạch sẽ, phải chăm sóc cả bồn hoa, cây xanh và vệ sinh phần sân trường thuộc phạm vi lớp của mình. Các tổ luân phiên trực nhật theo tuần. Đến phiên bạn nào trực nhật đều có mặt sớm nhất, mang theo chổi lúa để quét lớp, quét sân, giặt khăn lau bảng. Lớp học không khóa cửa nên hết giờ học lại mang chổi về. Nhiều bạn vừa đeo cặp sách nặng, vừa vác chổi lỉnh kỉnh nhưng vẫn rất vui. Đó là hình ảnh không quên trong ký ức học trò.
Nông thôn đổi mới, đến mùa gặt nay có máy gặt đập liên hoàn hỗ trợ nên người nông dân chỉ mang thóc về phơi, còn rơm để lại trên ruộng. Chẳng mấy nhà còn nấu cơm, nấu cám lợn bằng rơm. Làng quê thiếu hẳn khói lam chiều vấn vương từ mái bếp bay lên. Sau mùa gặt, người nông dân đốt rơm cháy rực, khói cuộn trắng đồng. Mỗi lần đi qua cánh đồng, vô tình va vào đám khói khiến mắt tôi cay xè.
Giờ đây, mỗi lần về quê nhân dịp giỗ, Tết, ngồi trước hiên nhà hồi tưởng lại những năm tháng tuổi thơ, hai chú em tôi vẫn nói vui: “Nhà mình sân rộng, lúc nhỏ, chúng em chia đôi sân để quét. Bố hay mắng bọn em quét ẩu, một nhát đến tai, hai nhát đến gáy. Quét chưa sạch, bố túm luôn cán chổi tét vào mông, đau ơi là đau mà không dám kêu. Anh được đi học nên ít phải quét sân, quét thóc nhất”.
Làng quê bây giờ phát triển lên phố, nhà cao tầng thay cho nhà ngói, chẳng biết từ khi nào chiếc máy hút bụi, cây chổi đót, chổi sợi cước thay thế vai trò của chiếc chổi rơm. Còn trên thành phố, chổi rơm hầu như vắng bóng trong mỗi ngôi nhà.
Nhà tôi cũng vậy, có con robot tự động hút bụi khắp nhà rồi quay về chỗ cắm sạc điện. Nhưng tôi vẫn thích mỗi sáng sớm thức dậy hay chiều muộn, tự tay cầm chổi lúa quét nhà, quét lá cây rụng trên vỉa hè. Cây chổi vô tri nhưng mang theo bao hoài niệm về gia đình, làng quê nơi hạt thóc, củ khoai cùng bao giọt mồ hôi của bố mẹ nuôi chúng tôi khôn lớn, trưởng thành.
