'Họa sĩ ngựa' và ký ức Quảng Trị

Họa sĩ Lê Trí Dũng là cựu chiến binh từng tham gia chiến đấu ở Quảng Trị những năm 1972-1973 và Chiến dịch Hồ Chí Minh năm 1975. Hai đề tài thành công nhất trong tranh của ông là chiến tranh và ngựa.

Đó cũng là hai mảng sáng tác lớn mà ông dành trọn đam mê từ khi cầm cọ. Đặc biệt, ông không chỉ vẽ ngựa rất sinh động, mà còn mang đến những triết lý nhân sinh và vũ trụ rất Á Đông. Hình ảnh những con ngựa của Lê Trí Dũng, dù đang tung bờm căng vó hay thong thả dạo bước, đều mang những vẻ đẹp riêng biệt và độc đáo. Đó là lý do ông được công chúng và đồng nghiệp quý mến gọi là… “họa sĩ ngựa”.

Trước thềm xuân Bính Ngọ, tôi điện thoại xin gặp ông để hỏi chuyện về tranh ngựa và được ông nhận lời. Đúng hẹn, tôi bấm chuông ngôi nhà ba tầng trong con ngõ quanh co trên phố Đặng Văn Ngữ ở Hà Nội. Họa sĩ đón tôi niềm nở, với câu “thông báo” thay cho lời chào: "Sáng nay, tôi đã phải khất 5 cuộc điện thoại tự giới thiệu là nhà báo muốn đến gặp để viết bài về tranh ngựa, chỉ nhận lời riêng cậu thôi đấy!"

Tôi nói vui: “Cảm ơn anh. Chắc tại nghe giọng em trọ trẹ dệ thương?”. Họa sĩ cười thành tiếng: “Đúng đúng, nghe giọng cậu là tôi nhận ra ngay người Quảng Trị, biết ngay là eng tam miềng rồi…”. Tôi chưa hết sửng sốt với mấy chữ “eng tam miềng” từ miệng ông họa sĩ “Hà Nội gộc”, thì ông đã cất tiếng hát du dương: Mảnh đất thân thương hiền lành giản dị/Còn thơm tiếng mẹ Quảng Trị quê ta… Và thế là câu chuyện của chúng tôi cuốn hút vào đề tài Quảng Trị vô cùng hào hứng…

Cựu chiến binh Lê Trí Dũng và cựu chính ủy Bùi Tùng, năm 2019 - Ảnh: NVCC

Cựu chiến binh Lê Trí Dũng và cựu chính ủy Bùi Tùng, năm 2019 - Ảnh: NVCC

Ông kể, trước năm 1975, ông đã 3 lần được vào Quảng Trị. Lần thứ nhất vào tháng 5/1969, lúc ông đang học năm thứ 3 Đại học Mỹ thuật thì được theo nhóm đi thực tập ở Vĩnh Linh. Ai nấy gò lưng trên những chiếc xe đạp cà tàng; lỉnh kỉnh ba lô, túi gạo, giá vẽ... Hồi đó, tàu bay Mỹ đã ngừng ném bom miền Bắc từ vĩ tuyến 17 trở ra, nhưng Vĩnh Linh vẫn nóng bỏng không khí thời chiến. Sau hơn 3 tháng dãi dầu trên miền "đất lửa" đúng cả nghĩa đen và nghĩa bóng, ông đã có hàng trăm bức ký họa về những hình ảnh tàn phá của bom đạn, hình ảnh quân và dân vừa lao động sản xuất, vừa sẵn sàng chiến đấu… Cuối tháng 8 kết thúc đợt thực tập, cả nhóm đạp xe ra đến đèo Ngang thì được tin Bác Hồ từ trần. Ai nấy quyết tâm đi cả ngày lẫn đêm để kịp ra Thủ đô dự Lễ truy điệu Bác tại Quảng trường Ba Đình.

Lần thứ hai là cuối tháng 5/1972. Sau 3 tháng huấn luyện tân binh ở miền Tây tỉnh Thanh Hóa, tiểu đoàn "Lính sinh viên" của ông được lệnh “đi Bê”. Lúc đó Mỹ đã rục rịch ném bom trở lại miền Bắc, nên từ đèo Ngang trở vào đơn vị phải hành quân bộ, thường vào ban đêm. Ròng rã hơn nửa tháng, các ông mới đến vùng thượng nguồn sông Bến Hải.

Tập kết ở binh trạm, chuẩn bị hành quân tiếp về phía Đông Quảng Trị thì có chỉ thị của cấp trên: Những chiến sĩ thuộc Sư đoàn 338 là giảng viên các trường đại học và sinh viên đang làm luận án tốt nghiệp, được rút về bổ sung cho các quân-binh chủng kỹ thuật. Sau này ông được biết, chỉ thị trên đây chỉ dành cho Sư đoàn 338 của các ông, lúc đó thuộc lực lượng vũ trang Hà Nội tăng cường cho các chiến trường. Cũng sau này ông mới biết, lúc đó Tiểu đoàn "Lính sinh viên" của các ông vào để chuẩn bị tham gia chiến dịch bảo vệ Thành Cổ và thị xã Quảng Trị, trong “Mùa hè rực lửa” năm 1972…

Lần thứ ba ông vào Quảng Trị với tư cách… họa sĩ. Ấy là sau khi được rút ra Bắc đầu tháng 6/1972, ông được biên chế về Binh chủng Tăng-Thiết giáp. Sau 3 tháng học lái xe tăng, chuẩn bị ra trận thì đơn vị phát hiện ra “hoa tay”, bèn rút lên Bộ Tư lệnh Binh chủng để chuẩn bị cho các hoạt động kỷ niệm 13 năm truyền thống Bộ đội Tăng-Thiết giáp (1959-1972). Do hoàn thành nhiệm vụ xuất sắc, nên sau lễ kỷ niệm, ông được điều lên Phòng Chính trị Binh chủng, làm phóng viên của tờ tin Tăng-Thiết giáp. Cuối năm 1972, ông được cử vào Quảng Trị, nơi có các phân đội của Lữ đoàn xe tăng 203 đang bố trí từ xã Cửa Việt đến Làng Vây, Khe Sanh… để vẽ tranh cổ động và viết bài cho tờ tin của binh chủng.

Binh nhất Lê Trí Dũng là “phái viên” của cấp trên, nên được ăn nghỉ ở lữ đoàn bộ. Nhờ vậy, ông được gần gũi bên Chính ủy Bùi Tùng khá lâu. Một hôm được xuống hầm chính ủy, thấy trên kệ sách có rất nhiều tiểu thuyết rất hay, như: Bông hồng vàng, Sông Đông êm đềm, Đất vỡ hoang, Chiến tranh và hòa bình… Lê Trí Dũng reo lên: “Ồ, những cuốn sách này là ở chỗ mẹ em”. Khi biết Dũng là con trai của cô nhân viên Hiệu sách Quốc văn Tràng Tiền, chính ủy Tùng vui như được gặp lại bà chị thân quen ở một địa chỉ thân thuộc bên hồ Hoàn Kiếm. Hôm chia tay để xuống bám cơ sở, ông được chính ủy tặng một chiếc xanh-tuya và chiếc dao găm, còn giữ mãi đến nay…

Thiết mã Bính Ngọ 2026 - Ảnh: NVCC

Thiết mã Bính Ngọ 2026 - Ảnh: NVCC

Những năm tháng ở Quảng Trị, ông có biết bao kỷ niệm khó quên. Nhớ nhất là lần ông bị mấy o du kích Vĩnh Linh bắt sống khi đang là sinh viên đi thực tập. Lúc đó, tuy Mỹ ngừng ném bom ở phía Bắc vĩ tuyến 17, nhưng dọc 2 bờ sông Bến Hải vẫn hết sức căng thẳng. Vào Vĩnh Linh mà chưa lội xuống sông Bến Hải, coi như chưa vào đất lửa. Nghĩ thế, nên một đêm trăng lu, ông liều mò ra bến đò Tùng Luật. Từ xóm Roọc ở xã Vĩnh Kim, ông luồn theo giao thông hào sang xã Vĩnh Giang (nay hai xã này thuộc xã Cửa Tùng), chạy qua một quãng đồng rồi nhằm hướng bến đò. Khi chỉ còn cách mép nước vài bước, bỗng một tiếng hô đanh gọn khiến ông khựng người: “Đứng lại!”. Kèm theo là tiếng lên đạn lách cách. “Giơ tay lên!”. Ông làm theo răm rắp. “Tôi… tôi là sinh viên đoàn anh Việt”. Anh Việt là đoàn trưởng của nhóm, hôm đến đây đã báo cáo địa phương và “đoàn anh Việt” được quy ước như mật khẩu. “Quay lại, bước đúng vào dấu chân lúc xuống!”…

Ba du kích, một nữ, hai nam, áp giải ông vào căn hầm cuối cánh đồng. Sau cuộc “hỏi cung” hết sức cẩn thận, biết chắc chắn ông là sinh viên trường họa, tổ du kích cho biết ông vừa băng qua bãi mìn khá dày đặc, đề phòng biệt kích người nhái. O du kích cứ nhắc đi, nhắc lại: “Lạ hè? Tài thiệt! Răng eng ni không đạp trúng quả mìn mô hè?”…

Ý định lội nước sông Bến Hải thất bại. Mãi đến năm 2017, ông mới thực hiện được nguyện vọng thời trai trẻ. Lần ấy, ông đi cùng vợ chồng con gái chính ủy Bùi Tùng từ nước ngoài về thăm chiến trường xưa của bố. Chồng cô này là nhà sưu tập tranh người Mỹ. Thân quen nhau qua làm ăn, ông mới biết khách hàng là con rể của chính ủy Bùi Tùng, còn chàng rể cũng mới biết ông từng là lính của bố vợ…

Nhắc chuyện bán tranh, tôi mới sực nhớ, hỏi: - Thưa anh, cơ duyên nào mà anh trở thành “họa sĩ ngựa”? Giọng ông chùng hẳn xuống, bộc bạch rằng sau năm 1975, rất nhiều đồng đội của ông ở chiến trường Quảng Trị bị nhiễm chất độc hóa học, để lại di chứng thương tâm cho con cháu. Vì vậy ông rất lo cho mình. Năm Mậu Ngọ 1978, ông sinh con trai đầu lòng, lành lặn bình thường, nhưng ông vẫn canh cánh. Rất may, cháu phát triển tốt, thông minh, khỏe mạnh. Đến năm Canh Ngọ 1990, đúng sinh nhật lần thứ 12 của con, ông xuất thần vẽ tặng một chú tuấn mã. Ai cũng tấm tắc khen đẹp, nhiều người ra giá rất cao nhưng ông không bán. Từ đó, ông càng thăng hoa mê đắm với đề tài ngựa…

Kể đến đây, ông phấn chấn dẫn tôi lên căn gác để xem tranh. Một thế giới ngựa vô cùng sống động hiện ra, mỗi con một vẻ, thật khó diễn đạt nên lời… Đây là những chú ngựa ông quý nhất trong gia tài tranh ngựa của ông, ai trả giá bao nhiêu cũng không bán. Cạnh đó là những bức ngựa ông mới vẽ gần đây, đa phần là hàng đặt của các báo cho cho số Xuân Bính Ngọ 2026. Tất cả đều sống động, rực rỡ, lung linh… như đang chực tung vó trước mùa xuân mới!

Mai Nam Thắng

Nguồn Quảng Trị: https://baoquangtri.vn/van-hoa/202602/hoa-si-ngua-va-ky-uc-quang-tri-a246e6c/