Hiệu quả các chính sách vùng đồng bào Khmer ở An Giang
Những con đường bê tông nối dài, những ngôi nhà kiên cố, cùng các mô hình sản xuất, làng nghề truyền thống ngày một khởi sắc đang cho thấy diện mạo mới ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số tỉnh An Giang đang đổi thay từng ngày.
Những con đường bê tông nối dài, những ngôi nhà kiên cố, cùng các mô hình sản xuất, làng nghề truyền thống ngày một khởi sắc đang cho thấy diện mạo mới ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số tỉnh An Giang đang đổi thay từng ngày.
Nhà cửa khang trang, đường sá rộng rãi đã giúp cho việc đi lại, phát triển kinh tế ở vùng đồng bào Khmer ở An Giang được cải thiện đáng kể.
Đa dạng sinh kế giúp bà con Khmer thoát nghèo
Vào những ngày đầu tháng 8, chúng tôi có dịp đến thăm gia đình ông Chau Siêng, ngụ ấp Phước Lợi, xã Ô Lâm (tỉnh An Giang). Ông kể lại, trước đây gia đình thuộc diện hộ khó khăn, vợ chồng chủ yếu sống bằng nghề làm thuê theo mùa vụ nên thu nhập bấp bênh, cuộc sống thiếu trước hụt sau.
Thông qua Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, gia đình ông Chau Siêng được hỗ trợ một con bò sinh sản trị giá khoảng 25 triệu đồng để phát triển chăn nuôi. Theo cơ chế xoay vòng của chương trình, sau ba năm, hộ dân hoàn trả 2,5 triệu đồng để tiếp tục hỗ trợ các hộ khác.
Không chỉ được trao sinh kế, gia đình ông còn được hỗ trợ máy móc, nông cụ phục vụ sản xuất và 60 triệu đồng xây dựng nhà ở cùng nguồn vốn đối ứng của gia đình, qua đó từng bước xóa bỏ căn nhà tạm bợ.
“Trước đây, vợ chồng tôi chỉ biết đi làm thuê, cuộc sống rất chật vật. Từ khi được Nhà nước hỗ trợ bò giống và xây nhà, gia đình có điều kiện ổn định cuộc sống, yên tâm làm ăn. Tôi mong sẽ có thêm nhiều hộ khó khăn được tiếp sức để vươn lên thoát nghèo”, ông Chau Siêng chia sẻ.
Theo ông Yan Sâm Ol, Trưởng ấp Phước Lợi, những năm gần đây, nhờ các chương trình, chính sách của Đảng và Nhà nước, diện mạo nông thôn ở xã Ô Lâm đổi thay rõ nét. Đường giao thông được đầu tư khang trang, điện lưới quốc gia, nước sạch được phủ rộng, tạo điều kiện thuận lợi để người dân phát triển sản xuất và nâng cao chất lượng cuộc sống.
“Quan trọng hơn cả là nhận thức của người dân đã thay đổi. Khi được tuyên truyền, hướng dẫn và tiếp cận đúng chính sách, bà con mạnh dạn vay vốn, phát triển sản xuất, không còn trông chờ, ỷ lại như trước”, ông Yan Sâm Ol nhấn mạnh.
Tại xã Vĩnh Bình, gia đình bà Sơn Thị Oanh ở ấp Xẻo Gia từng thuộc diện hộ nghèo. Gia đình có 4 nhân khẩu nhưng không có đất sản xuất, chỉ có khoảng 2.000 m² đất ở. Trước đây nhà ở tạm bợ, nguồn thu nhập bấp bênh, thiếu vốn đầu tư sản xuất.
Từ một căn cứ cách mạng năm xưa, đến nay xã Vĩnh Bình ở An Giang đã khoác lên mình diện mạo mới với những con đường bê tông thẳng tắp, những vườn khóm, ruộng lúa, ao cá, vuông tôm trù phú trên hành trình vươn lên xây dựng nông thôn mới phát triển bền vững.
Từ chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, gia đình bà Oanh đã được hỗ trợ 10 triệu đồng chuyển đổi ngành nghề, 60 triệu đồng xây dựng nhà ở kiên cố và tiếp cận nguồn vốn vay ưu đãi 50 triệu đồng từ Ngân hàng Chính sách xã hội.
Có vốn, có chỗ ở ổn định, gia đình bà mạnh dạn cải tạo chuồng trại, triển khai mô hình nuôi heo thương phẩm kết hợp trồng rau. Sau khi trừ chi phí, mô hình mang lại thu nhập khoảng 60 triệu đồng/năm, giúp gia đình bà Oanh từng bước chủ động tài chính và thoát nghèo bền vững.
Ông Võ Thanh Xuân, Phó Bí thư Thường trực Đảng ủy, Chủ tịch HĐND xã Vĩnh Bình (An Giang) tặng quà cho vị chức sắc, người có uy tín trong cộng đồng dịp Tết cổ truyền Chôl Chnăm Thmây của bà con Khmer.
Theo ông Võ Thanh Xuân, Phó Bí thư Thường trực Đảng ủy, Chủ tịch HĐND xã Vĩnh Bình, đến nay xã đã huy động và giải ngân hơn 3 tỷ đồng từ nguồn vốn các chương trình mục tiêu quốc gia để hỗ trợ đồng bào Khmer.
Trong đó, 36 hộ được hỗ trợ chuyển đổi ngành nghề với tổng kinh phí 360 triệu đồng; 30 hộ được hỗ trợ mua bồn nước; 12 hộ dân tộc được hỗ trợ nhà ở với tổng kinh phí 552 triệu đồng. Xã Vĩnh Bình cũng đầu tư các công trình nước sạch tập trung có chiều dài 5,3km, phục vụ 127 hộ dân; tổ chức 4 lớp đào tạo nghề ngắn hạn với 140 lượt người tham gia.
“Nhờ các chính sách được triển khai đồng bộ, thu nhập bình quân đầu người vùng đồng bào dân tộc thiểu số tại xã Vĩnh Bình hiện đạt khoảng 58 triệu đồng/người/năm; trên 85% hộ đồng bào Khmer đã thoát nghèo, không phát sinh tình trạng tái nghèo”, ông Xuân khẳng định.
Để nâng cao đời sống cho bà con Khmer, các địa phương ở An Giang còn chú trọng bảo tồn, phát huy những giá trị văn hóa truyền thống trở thành nguồn lực để phát triển kinh tế.
Đến với làng dệt thổ cẩm Khmer Văn Giáo ở xã An Cư vào những ngày này, mới thấy làng nghề đang từng bước chuyển mình mạnh mẽ, tạo việc làm ổn định cho nhiều phụ nữ Khmer.
Từ những khung dệt thủ công và các sản phẩm truyền thống, làng nghề đã xây dựng được thương hiệu tập thể “Silk Khmer”. Sản phẩm xà-rông của làng được công nhận đạt chuẩn OCOP 3 sao và là sản phẩm công nghiệp nông thôn tiêu biểu khu vực phía Nam năm 2023.
Với những người phụ nữ Khmer ở ấp Srây Skoth, nghề dệt thổ cẩm không chỉ giúp giữ gìn những hoa văn truyền thống mà còn tạo thêm nguồn thu nhập. Vào thời điểm nông nhàn, mỗi người có thể kiếm thêm khoảng 3 - 5 triệu đồng/tháng, tùy tay nghề, độ phức tạp của hoa văn và sản lượng sản phẩm.
Ông Nguyễn Duy Phong, Chủ tịch UBND xã An Cư, cho rằng làng nghề dệt thổ cẩm Khmer Văn Giáo vừa là nơi lưu giữ giá trị văn hóa lâu đời, vừa đang trở thành động lực kinh tế của địa phương. Vì vậy, việc bảo tồn nghề truyền thống mang ý nghĩa kép, vừa giữ gìn bản sắc dân tộc, vừa tạo sinh kế bền vững cho bà con Khmer.
"Trong thời gian tới, xã An Cư định hướng đưa làng nghề trở thành sản phẩm du lịch đặc trưng của tỉnh. Địa phương dự kiến xây dựng bản đồ nông hóa, quy hoạch vùng nguyên liệu trồng dâu, nuôi tằm rộng hơn 1 ha; hỗ trợ đào tạo nghề, tiếp cận nguồn vốn ưu đãi từ 5 - 100 triệu đồng cho các hộ phát triển sản xuất. Cùng với đó, xã sẽ tăng cường kết nối, quảng bá, mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm “Silk Khmer”, đồng thời xây dựng các tour, tuyến du lịch gắn với làng nghề theo hướng bền vững", ông Phong cho biết thêm.
Phát triển toàn diện vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi
Theo UBND tỉnh An Giang, hiện tỉnh có 29 dân tộc cùng sinh sống với khoảng 472.132 người là đồng bào dân tộc thiểu số, chiếm 9,53% dân số toàn tỉnh. Trong đó, dân tộc Khmer chiếm số đông, tiếp đến là các dân tộc Hoa và Chăm.
Đua bò chùa Rô là lễ hội truyền thống đặc sắc của đồng bào Khmer vùng Bảy Núi thường được tổ chức tại khuôn viên chùa Rô, xã An Cư, tỉnh An Giang.
Cùng với các chính sách hỗ trợ sinh kế, An Giang đang tập trung đầu tư hạ tầng, giáo dục, y tế, nước sạch và các dịch vụ xã hội cơ bản tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số.
Đến nay, 100% xã vùng đồng bào dân tộc thiểu số có đường đến trung tâm và liên xã được trải nhựa hoặc bê tông. Điện lưới quốc gia phủ khắp các xã đặc biệt khó khăn, phục vụ sinh hoạt và sản xuất cho 99,6% hộ dân. Tỷ lệ người dân tộc thiểu số tham gia bảo hiểm y tế đạt trên 98%; 99,88% hộ được sử dụng nước sạch. Về giáo dục có 9 trường dân tộc nội trú đạt 100% chỉ tiêu tuyển sinh; 18 trường tiếp tục duy trì việc dạy chữ Khmer. Những kết quả này góp phần thu hẹp khoảng cách tiếp cận các dịch vụ xã hội giữa vùng đồng bào dân tộc thiểu số với các khu vực khác.
Trong 6 tháng đầu năm 2026, tình hình vùng đồng bào dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh An Giang cơ bản ổn định. Các chương trình mục tiêu quốc gia, chính sách dân tộc và an sinh xã hội tiếp tục được triển khai, góp phần giảm nghèo, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của người dân. Tỷ lệ hộ nghèo đa chiều toàn tỉnh giảm còn 1,03%; tỷ lệ hộ nghèo trong đồng bào dân tộc thiểu số còn 2,53%.
Hầu hết các phum sóc nay đã có đường bê tông, nhựa hóa, cầu nông thôn, điện lưới quốc gia, trường học và trạm y tế kiên cố, giúp việc đi lại, giao thương và phát triển kinh tế của bà con ở xã U Minh Thượng, tỉnh An Giang trở nên thuận lợi.
Sau sắp xếp đơn vị hành chính, An Giang có 102 đơn vị hành chính cấp xã, trong đó có 65 xã và 46 ấp thuộc vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Theo định hướng phát triển giai đoạn 2026 - 2030, tỉnh đặt mục tiêu xây dựng nông thôn mới hiện đại, giàu đẹp, bền vững, giảm nghèo đa chiều; đồng thời phát triển toàn diện vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, bảo đảm an sinh xã hội và giữ gìn bản sắc văn hóa.
Phấn đấu đến năm 2030, tỉnh An Giang có 100% số xã đạt chuẩn nông thôn mới; tỷ lệ hộ nghèo đa chiều giảm từ 0,3%/năm trở lên; riêng vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giảm từ 0,3 - 0,5%/năm, đưa 12 xã và 70 khóm, ấp thoát khỏi tình trạng đặc biệt khó khăn.
Theo ông Danh Phúc, Giám đốc Sở Dân tộc và Tôn giáo tỉnh An Giang, trong thời gian tới, Sở sẽ tiếp tục triển khai hiệu quả các chương trình, dự án, chính sách phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi; nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước về công tác dân tộc, tôn giáo; đồng thời phát huy vai trò của chức sắc, chức việc và người có uy tín trong cộng đồng.
Trọng tâm là đầu tư hoàn thiện hạ tầng; hỗ trợ phát triển sản xuất, tạo sinh kế, nâng cao thu nhập; phát triển nguồn nhân lực; tăng cường thông tin, tuyên truyền và đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số. Những “điểm nghẽn” về hạ tầng, sinh kế, việc làm và tiếp cận dịch vụ xã hội ở những địa bàn khó khăn vì thế sẽ tiếp tục được tháo gỡ bằng các chính sách có trọng tâm, trọng điểm.
Dân tộc Khmer
Tên tự gọi: Người Khmer.
Dân số: 1.260.640 người, (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).
Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Môn - Khơ Me.
Lịch sử: Trước thế kỉ XII người Khmer và văn hoá của họ giữ vai trò chủ thể ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long.
Hoạt động sản xuất: Người Khmer là cư dân nông nghiệp dùng cày và trồng lúa nước. Trong bộ công cụ nông nghiệp khá hoàn thiện và hiệu quả của họ, có những dụng cụ độc đáo thích ứng với điều kiện địa lí sinh thái Nam bộ như cái phảng thay cho cày chuyên dùng ở vùng đất phèn, mặn để phát cỏ, cù nèo (Pok) dùng để vơ cỏ. Cây nọc cấy (Sơ chal) dấu vết của chiếc gậy chọc lỗ xa xưa, tạo ra lỗ để cắm cây lúa ở những chân ruộng nước nhưng đất cứng, và cái vòn gặt (Kần điêu) dùng để cắt lúa.
Người Khmer có nghề đánh cá, dệt, chiếu, đan lát, dệt vải, làm đường thốt nốt và làm gốm. Kĩ thuật gốm đơn giản, công cụ chính là hòn kê (K’leng), bàn dập (Chơ), chưa dùng bàn xoay, không có lò nung cố định, gốm mộc, không màu,với độ nung thấp. Sản phẩm gốm chủ yếu là đồ gia cụ, tiêu biểu nhất là bếp (Cà ràng) và nồi (Cà om) rất được người Việt, người Hoa ở đồng bằng sông Cửu Long ưa dùng.
Ăn: Người Khmer trồng hơn 150 giống lúa tẻ và nếp khác nhau, họ thường ăn cơm tẻ và cơm nếp. Thức ăn hằng ngày có tôm, cá nhỏ, ếch, nhái, rau, củ. Họ chế biến rất nhiều loại mắm: mắm ơn Pứ làm bằng tôm tép, mắm Pơ inh làm bằng cá sặc, nhưng nổi tiếng nhất là mắm B’hóc làm bằng cá lóc, các sọc, cá trê, tôm tép, mắm pơ inh làm bằng cá sặc, nhưng nổi tiếng nhất là mắm B’hóc làm bằng cá lóc, cá sọc, cá trê, tôm tép trộn với thính và muối. Gia vị ưa thích nhất là vị chua (từ quả me hay mè) và cay (hạt tiêu, tỏi, sả, ca ri...).
Mặc: Nam nữ trước đây đều mặc xà rông bằng lụa tơ tằm do họ tự dệt. Lớp thanh niên ngày nay thích mặc quần âu với áo sơmi. Những người đứng tuổi, người già thường mặc quần áo bà ba màu đen, nam giới khá giả đôi khi mặc quần áo bà ba màu trắng với chiếc khăn rằn luôn quấn trên đầu, hoặc vắt qua vai. Chỉ đặc biệt trong cưới xin, nam nữ mới mặc quần áo cổ truyền. Chú rể mặc áo xà rông, áo màu đỏ, cổ đứng với hàng khuy trước ngực, bên vai trái quàng chiếc khăn dài trắng (Kăl xinh) và con dao cưới (Kầm pách) ngụ ý để bảo vệ cô dâu. Còn cô dâu mặc Xăm pốt (váy)màu tím hay màu hồng, áo dài màu đỏ, quàng khăn và đội mũ cưới truyền thống. áo dài Khơ Me (Wện) gần gũi với chiếc áo dài của phụ nữ Chăm: áo bịt tà, thân áo rộng và dài dưới gối, cổ áo thấp và xẻ trước ngực vừa đủ để chui đầu vào, tay áo chật, hai bên sườn thường ghép thêm bốn miếng vải (thường hoặc màu) kéo dài từ nách đến gấu áo.
Trang phục bắt mắt, nhiều màu sắc góp phần tôn lên vẻ đẹp của phụ nữ Khmer Nam Bộ. Ảnh An Hiếu
Ở: Họ sống ở đồng bằng sông Cửu Long, tập trung chủ yếu ở các tỉnh miền Tây Nam bộ và tụ cư trên 3 vùng môi sinh lớn: vùng đồng bằng nội địa, vùng phèn mặn ven biển, vùng đồi núi Tây Nam giáp biên giới Cam Pu Chia. Người Khmer trước đây ở nhà sàn, nay sống trong các ngôi nhà đất.
Phương tiện vận chuyển: Thường sử dụng xe bò (cộ), xe lôi bánh gỗ, hoặc bánh hơi, đi lại trên đường hay những chân ruộng khô, vận chuyển nông sản trong mùa thu hoạch.
Sống trong môi trường chằng chịt kênh, rạch, ghe, thuyền của người Khmer có rất nhiều loại: xuồng ba lá, ghe tam bản, thuyền " tắc rán" hoặc thuyền "đuôi tôm" chạy máy. Ðặc biệt nhất là chiếc ghe Ngo (Tuộc mua) dài 30m, làm bằng gỗ sao, có từ 30-40 tay chèo, mũi và hai bên thành thuyền có vẽ hình ó biển, voi, sư tử, sóng nước. Ghe Ngo chỉ sử dụng trong dịp lễ chào mặt trăng OK-ang Bok (tháng 10 âm lịch), còn ngày thường họ gửi trong chùa, được cư dân trong các "Phum", "Sóc" coi như vật thiêng.
Quan hệ xã hội: Gia đình nhỏ một vợ một chồng, ở riêng và là đơn vị kinh tế độc lập, có nơi 3-4 thế hệ sống chung trong một nhà. Xã hội Khmer vẫn còn tồn tại nhiều tàn dư mẫu hệ.
Người Khmer có rất nhiều họ khác nhau. Những họ do triều Nguyễn trước đây đặt ra như: Danh, Kiên, Kim, Sơn, Thạch. Những họ tiếp thu từ người Việt và người Hoa như: Trần, Nguyễn, Dương, Trương, Mã, Lý... Lại có những họ thuần tuý Khmer như U, Khan, Khum. Tình trạng ngoại tình, đa thê, li hôn hoặc loạn luân giữa những người có huyết thống trực hệ, ít xẩy ra hoặc tuyệt đối nghiêm cấm.
Hôn nhân: Hôn nhân thường do cha mẹ xếp đặt, có sự thoả thuận của con cái. Cưới xin trải qua 3 bước: làm mối, dạm hỏi và lễ cưới, được tổ chức ở bên nhà gái. Sau đó, người con trai phải ở bên nhà vợ một thời gian. Trải qua ít năm hoặc khi có con, họ ra ở riêng, nhưng vẫn cư trú bên ngoại.
Ma chay: Tục hoả thiêu đã có từ lâu. Sau khi thiêu, tro được giữ trong tháp "Pì chét đẩy", xây cạnh ngôi chính điện trong chùa.
Lễ tết: Có 2 lễ lớn trong năm.
Tết Chuôn chnam Thmây tổ chức từ ngày 1 đến ngày 3 đầu tháng Chét (theo Phật lịch) vào khoảng tháng 4 dương lịch.
Lễ chào mặt trăng (ok ang bok) tổ chức vào rằm tháng 10 âm lịch, trong lễ này có đua thuyền Ngo giữa các phum - sóc.
Thờ cúng: Thờ Phật, tổ tiên và thực hành các nghi lễ nông nghiệp như cúng thần ruộng (neak tà xiê), gọi hồn lúa (ok ang leok), thần mặt trăng (ok ang bok).
Học: Con trai khi lớn đều được cha mẹ gửi vào chùa làm sư từ 3 đến 5 năm. Họ được học kinh Phật, học chữ Khmer ở các trường chùa. Chỉ sau nghĩa vụ tu hành, họ mới được phép hoàn tục và mới có quyền được lập gia đình.
Các nghệ nhân người Khmer (Cà Mau) diễn tấu với các nhạc cụ trong dàn nhạc trống lớn. Ảnh Huỳnh Lâm
Văn nghệ: Người Khmer có cả một kho tàng phong phú về truyện cổ như thần thoại, truyền thuyết, cổ tích, ngụ ngôn, truyện cười, có một nền sân khấu truyền thống như Dù kê, Dì kê, một nền âm nhạc vừa có nguồn gốc Ấn Ðộ, vừa có nguồn gốc Ðông Nam Á. Nghệ thuật và kiến trúc chùa tháp được coi là di sản đặc sắc nhất của văn hoá Khmer. Trong các ngôi chùa Khmer của Phật giáo tiểu thừa (Thérévada), ngoài tượng Ðức Phật Thích Ca được tôn thờ duy nhất, chiếm vị trí trung tâm khu chính điện, vẫn tồn tại một hệ thống phong phú linh thần, linh thú - những dấu vết tàn dư còn lại của Bà la môn giáo và tín ngưỡng dân gian.
Theo cema.gov.vn
Tin liên quan
Tạo sinh kế, mở đường thoát nghèo cho đồng bào Khmer Đa dạng hóa mô hình sinh kế giúp đồng bào Khmer giảm nghèo bền vững































