Hiện thực hóa khát vọng vươn ra biển

Hướng tới mục tiêu đưa Việt Nam trở thành quốc gia giàu từ biển, mạnh về biển, phát triển bền vững từ biển, yêu cầu đặt ra với mỗi địa phương ven biển là khai thác hiệu quả tiềm năng, lợi thế gắn với bảo vệ tài nguyên, môi trường và nâng cao đời sống nhân dân. Trong hành trình ấy, Ninh Bình đang từng bước hiện thực hóa khát vọng vươn ra biển, mở rộng không gian phát triển, đóng góp vào xây dựng một Việt Nam mạnh về biển, thịnh vượng từ biển.

Vườn quốc gia Xuân Thủy - Khu Ramsar đầu tiên của Việt Nam. Ảnh: PV

Vườn quốc gia Xuân Thủy - Khu Ramsar đầu tiên của Việt Nam. Ảnh: PV

Tại Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh: Phát triển kinh tế biển phải gắn bảo vệ hệ sinh thái, nâng cao đời sống nhân dân, giữ vững chủ quyền và phát triển đất nước. Kinh tế biển chỉ là một thành tố trong mục tiêu xây dựng quốc gia biển mạnh. Chúng ta phải tích cực chuẩn bị các điều kiện để đến năm 2045, Việt Nam trở thành quốc gia giàu từ biển, phát triển bền vững từ biển, có nền quản trị biển hiện đại, có công nghệ biển tiên tiến.

Chỉ đạo của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước đặt phát triển kinh tế biển trong tầm nhìn xây dựng quốc gia biển mạnh. Đó là yêu cầu phát triển kinh tế gắn với bảo vệ tài nguyên, môi trường; đầu tư hạ tầng, tổ chức lại không gian phát triển; nâng cao đời sống nhân dân, bảo đảm quốc phòng, an ninh và phát triển bền vững.

Đối với Ninh Bình, định hướng ấy càng có ý nghĩa khi không gian phát triển của tỉnh sau hợp nhất được mở rộng từ vùng đồi núi, đô thị di sản, đồng bằng đến biển. Với 89,45km bờ biển, 16 xã ven biển và gần 600 nghìn dân, tỉnh có thêm dư địa để hình thành các động lực tăng trưởng mới, tăng cường kết nối với khu vực Duyên hải Bắc Bộ. Dọc vùng bờ có 5 cửa sông lớn, hệ thống bãi triều, đầm lầy, rừng ngập mặn và nguồn lợi thủy sản phong phú. Vườn quốc gia Xuân Thủy - khu Ramsar đầu tiên của Việt Nam có giá trị đặc biệt về đa dạng sinh học và cảnh quan vùng cửa sông. Cùng với đó là tiềm năng phát triển cảng biển, logistics, công nghiệp, đô thị, thủy sản, du lịch sinh thái, năng lượng tái tạo, tạo điều kiện hình thành chuỗi giá trị kinh tế biển đa ngành.

Vùng ven biển còn có khả năng kết nối với các trung tâm kinh tế, khu kinh tế và cảng biển của Bắc Bộ. Khi đường bộ ven biển, cao tốc, giao thông liên vùng và các trục kết nối nội tỉnh được đầu tư đồng bộ, vùng biển Ninh Bình sẽ có điều kiện tham gia sâu hơn vào mạng lưới sản xuất, logistics và lưu thông hàng hóa.

Tuy nhiên, để biển thực sự trở thành động lực phát triển còn không ít điểm nghẽn. Hạ tầng kinh tế - xã hội vùng ven biển chưa đồng bộ; kết nối giữa các khu vực còn hạn chế; sản phẩm du lịch biển chưa rõ nét; sản xuất thủy sản ở một số nơi còn nhỏ lẻ; nguồn lực đầu tư chưa đáp ứng nhu cầu. Biến đổi khí hậu, nước biển dâng, thiên tai cũng gây sức ép đối với đê điều, sản xuất và đời sống dân cư.

Nhận diện rõ những vấn đề đó, Nghị quyết số 16-NQ/TU, ngày 12/2/2026 của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh xác định phát triển kinh tế biển trở thành động lực tăng trưởng mới, đưa vùng ven biển thành cực tăng trưởng khu vực Đông Nam của tỉnh. Đến năm 2030, tốc độ tăng trưởng kinh tế biển và ven biển bình quân giai đoạn 2025-2030 đạt trên 11%/năm, đóng góp trên 20% GRDP.

Để hiện thực hóa mục tiêu, trước hết cần tổ chức không gian phát triển vùng ven biển trên cơ sở quy hoạch đồng bộ, có tầm nhìn dài hạn; ưu tiên hạ tầng giao thông kết nối với cao tốc, đường bộ ven biển, các khu công nghiệp, đô thị và trung tâm kinh tế; từng bước hoàn thiện hạ tầng cảng biển, logistics, khu kinh tế và khu công nghiệp. Hạ tầng đồng bộ sẽ tạo nền tảng thu hút đầu tư, mở rộng sản xuất và phát huy lợi thế của vùng ven biển.

Cùng với đó, cần huy động và sử dụng hiệu quả các nguồn lực. Trong điều kiện nhu cầu đầu tư lớn, ngân sách Nhà nước có hạn, tỉnh cần ưu tiên vốn đầu tư công cho các công trình trọng điểm, đồng thời cải thiện môi trường đầu tư, huy động nguồn lực xã hội vào công nghiệp, cảng biển, logistics, đô thị, du lịch, năng lượng tái tạo và chế biến thủy sản. Thu hút đầu tư có chọn lọc, coi trọng hiệu quả kinh tế - xã hội, công nghệ và bảo vệ môi trường.

Phát triển kinh tế biển gắn chặt với sinh kế và đời sống người dân. Sản xuất thủy sản cần chuyển từ nhỏ lẻ sang tổ chức theo chuỗi, ứng dụng khoa học, công nghệ, gắn nuôi trồng, khai thác với chế biến và thị trường. Giá trị của vùng cửa sông, bãi triều, rừng ngập mặn, Vườn quốc gia Xuân Thủy cần được khai thác hợp lý để phát triển du lịch sinh thái, tạo thêm việc làm và thu nhập cho cộng đồng ven biển.

Đồng thời, bảo vệ môi trường phải là yêu cầu xuyên suốt. Rừng ngập mặn, bãi triều, vùng cửa sông vừa là tài nguyên phát triển, vừa là “lá chắn” trước thiên tai, biến đổi khí hậu. Củng cố đê biển, phục hồi hệ sinh thái, tăng cường quan trắc, quản lý vùng bờ, kiểm soát ô nhiễm phải được thực hiện đồng bộ với phát triển công nghiệp, đô thị và dịch vụ, không đánh đổi môi trường lấy tăng trưởng trước mắt.

Khát vọng vươn ra biển của Ninh Bình là khát vọng mở rộng không gian, kiến tạo động lực phát triển mới. Với quyết tâm chính trị cao, sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị, cộng đồng doanh nghiệp và nhân dân, Ninh Bình cần biến tiềm năng thành nguồn lực, lợi thế thành giá trị, chủ trương thành kết quả cụ thể; để kinh tế biển đóng góp xứng đáng vào tăng trưởng, nâng cao đời sống nhân dân, góp phần hiện thực hóa mục tiêu xây dựng Ninh Bình trở thành thành phố trực thuộc Trung ương vào năm 2030.

Bảo Yến

Nguồn Ninh Bình: https://baoninhbinh.org.vn/hien-thuc-hoa-khat-vong-vuon-ra-bien-260814075235286.html