Hiến pháp 1992 - cuộc 'cách mạng' trong tư duy kinh tế và kỹ thuật lập pháp
Nếu Hiến pháp 1946 là sự khởi đầu vĩ đại đặt nền móng cho thể chế dân chủ cộng hòa, thì Hiến pháp 1992 và giai đoạn sau đó được xem là cuộc 'cách mạng' trong tư duy kinh tế và kỹ thuật lập pháp. Phó Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật và Tư pháp Nguyễn Thị Mai Phương có những chia sẻ về vấn đề này.
Tại Tọa đàm “Quốc hội và hoạt động lập hiến, lập pháp - Từ Hiến pháp 1946 đến cải cách thể chế trong kỷ nguyên phát triển mới” do Báo Đại biểu Nhân dân tổ chức sáng 29/12, các đại biểu cho rằng sau Hiến pháp 1946 với tinh thần độc lập, tự do, công cuộc lập pháp không ngừng vận động để phục vụ kháng chiến, kiến quốc.

Phó Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật và Tư pháp Nguyễn Thị Mai Phương chia sẻ tại Tọa đàm “Quốc hội và hoạt động lập hiến, lập pháp - Từ Hiến pháp 1946 đến cải cách thể chế trong kỷ nguyên phát triển mới” do Báo Đại biểu Nhân dân tổ chức sáng 29/12. Ảnh: Duy Thông
Tuy nhiên, phải đến khi công cuộc Đổi mới được khởi xướng năm 1986 và được thể chế hóa cao nhất tại Hiến pháp 1992, hoạt động của Quốc hội mới thực sự bước sang một trang mới với những thay đổi mang tính chất nền tảng.
Hiến pháp 1992 ra đời trong bối cảnh đất nước "chuyển mình" từ cơ chế kế hoạch hóa tập trung, quan liêu bao cấp sang nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước. Đây là một thách thức lớn đối với Quốc hội thời kỳ đó: Phải xây dựng một hệ thống pháp luật với vai trò "bà đỡ" cho nền kinh tế vận hành theo tư duy mới.
Ngay sau khi Hiến pháp năm 1992 được thông qua, Quốc hội đã bắt tay ngay vào việc cụ thể hóa các quy định hiến định, đổi mới căn bản tư duy xây dựng pháp luật theo hướng vừa bảo đảm yêu cầu quản lý Nhà nước chặt chẽ, vừa khuyến khích sự sáng tạo, khơi thông nguồn lực trong dân để phát triển.
Nhìn lại giai đoạn lịch sử sôi động này, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật và Tư pháp Nguyễn Thị Mai Phương đánh giá cao sự nhạy bén của Quốc hội trong việc nắm bắt "hơi thở" của thời đại.
"Chúng tôi nhìn nhận rằng giai đoạn này thể hiện sự thay đổi mạnh mẽ về tư duy của Quốc hội. Quốc hội hoạt động chuyên nghiệp, kịp thời đổi mới tư duy, đưa ra luật quan trọng để phát triển nền kinh tế trong giai đoạn này và đặt nền tảng cho sự phát triển đất nước nói chung", bà Nguyễn Thị Mai Phương nhận định.
Khi thực tiễn nền kinh tế nảy sinh những quan hệ mới, những vướng mắc mới, Quốc hội đã sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành mới các đạo luật để tháo gỡ. Đây chính là bệ phóng quan trọng giúp nền kinh tế Việt Nam đạt được những tốc độ tăng trưởng ấn tượng trong thập niên 90 và những năm đầu thế kỷ XXI.

Quang cảnh tọa đàm
Dẫn chứng về sự chuyển dịch tư duy này, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật và Tư pháp chia sẻ câu chuyện từ chính trải nghiệm thực tiễn khi công tác trong lĩnh vực khoa học công nghệ vào thời điểm đó. "Thời kỳ đó, tôi đang làm việc trong lĩnh vực khoa học công nghệ và nhận thấy sự thay đổi. Từ sự thay đổi pháp luật về kinh tế chuyển đến pháp luật về khoa học, công nghệ cũng được thay đổi cơ bản. Từ việc Nhà nước giao nhiệm vụ đã cho phép các nhà khoa học ký kết hợp đồng với các doanh nghiệp, tổ chức kinh tế để gắn khoa học công nghệ với kinh tế", bà Nguyễn Thị Mai Phương nói.
Theo Phó Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật và Tư pháp, điểm đáng chú ý nữa ở giai đoạn đó là sự thay đổi trong tư duy lập pháp, lập hiến của Quốc hội. Các cơ quan Quốc hội đã rất lắng nghe chuyên gia, ý kiến các nhà khoa học, tiếp thu ý kiến từ thực tiễn để đưa ra chính sách phù hợp với sự phát triển kinh tế, xã hội thời kỳ này.
"Tôi cho rằng đó là dấu ấn lớn nhất, thể hiện sự đổi mới của Quốc hội giai đoạn này", bà Nguyễn Thị Mai Phương nhấn mạnh.































