Hàng Việt trước áp lực phòng vệ thương mại
Trong xu thế tự do hóa thương mại toàn cầu, phòng vệ thương mại (PVTM) đã trở thành một "van an toàn" hợp pháp giúp các quốc gia thích ứng trước các cú sốc nhập khẩu. Để bảo vệ lợi ích hợp pháp của các ngành sản xuất trong nước, các hiệp hội ngành hàng đóng vai trò cầu nối chiến lược vô cùng quan trọng.
Áp lực từ điều tra phòng vệ thương mại
Chia sẻ về rủi ro khi bị áp dụng biện pháp phòng vệ thương mại, bà Trần Đỗ Quyên - Phó Cục trưởng Cục Phòng vệ thương mại, Bộ Công Thương lấy ví dụ về ngành mật ong Việt Nam.

Ảnh minh họa.
Ngày 14/5/2021, Bộ Thương mại Hoa Kỳ (DOC) chính thức khởi xướng cuộc điều tra chống bán phá giá đối với mật ong nhập khẩu từ Việt Nam. Ở giai đoạn kết luận sơ bộ, các doanh nghiệp xuất khẩu mật ong Việt Nam đối mặt với mức thuế rất cao, dao động từ 410,93% đến 413,99%, ảnh hưởng lớn tới sinh kế của 40.000 người lao động.
Tuy nhiên, thay vì bỏ cuộc, các doanh nghiệp xuất khẩu dưới sự hỗ trợ của các cơ quan liên quan đã kiên trì theo đuổi vụ việc, cung cấp thông tin, sổ sách kế toán một cách minh bạch, nhất quán. Kết quả là tháng 4/2022, một mức thuế mới, giảm mạnh khoảng 7 lần, xuống còn 58,74% – 61,27% đã được chấp thuận.
Đến tháng 6/2026, mức thuế suất đối với các doanh nghiệp hợp tác đầy đủ tiếp tục giảm, chỉ còn 8,83% – 26,77%, trong khi mức thuế suất toàn quốc vẫn bị giữ nguyên ở mức 60,03%.
“Bài học rút ra từ vụ kiện mật ong là thuế phòng vệ thương mại có thể giảm đáng kể nếu doanh nghiệp chủ động hợp tác đầy đủ”, bà Quyên nhận định.
Theo dữ liệu từ Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) giai đoạn từ ngày 1/1/1995 đến 31/12/2025, hệ thống thương mại toàn cầu đã ghi nhận tổng cộng 8.742 vụ việc điều tra phòng vệ thương mại. Trong số đó, chống bán phá giá (CBPG) chiếm tỷ trọng áp đảo lên tới 85,5% (tương đương 7.471 vụ); tiếp theo là chống trợ cấp (CTC) với 816 vụ và tự vệ (TV) với 455 vụ.
Các cuộc điều tra này tập trung mạnh vào các ngành công nghiệp cơ bản và chuỗi cung ứng đầu vào, gồm kim loại cơ bản với 2.325 vụ CBPG, 339 vụ CTC và 112 vụ tự vệ; hóa chất với 1.491 vụ CBPG, 102 vụ CTC và 64 vụ tự vệ và nhựa và cao su với 1.035 vụ CBPG, 73 vụ CTC và 32 vụ tự vệ.
Tính đến tháng 8/2026, hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam đã phải đối mặt với 326 vụ việc điều tra phòng vệ thương mại từ nước ngoài. Rủi ro tập trung rất cao ở một số thị trường xuất khẩu trọng điểm có cơ chế điều tra thường xuyên và ngành sản xuất nội địa mạnh, trong đó 8 thị trường dẫn đầu chiếm tới 252 vụ việc.
Bên cạnh bộ công cụ phòng vệ thương mại truyền thống như chống bán phá giá, chống trợ cấp và tự vệ toàn cầu, các quốc gia nhập khẩu đang tích cực mở rộng và sử dụng linh hoạt nhiều công cụ mới mang tính bảo hộ cao hơn. Các công cụ mở rộng này bao gồm điều tra chống lẩn tránh thuế phòng vệ thương mại, tự vệ song phương/nội khối, điều tra trốn thuế phòng vệ thương mại, và các biện pháp dựa trên lý do an ninh quốc gia, chuỗi cung ứng, tiêu chuẩn lao động, môi trường và truy xuất nguồn gốc nguyên liệu.
Trong xu thế này, hàng hóa Việt Nam gặp phải nhiều thách thức. Đó là diện điều tra đã lan rộng sang túi giấy, đĩa giấy và nhiều loại nông sản khác thay vì chỉ giới hạn ở các mặt hàng truyền thống quy mô lớn như thép, gỗ hay thủy sản. Bên cạnh đó, cơ quan điều tra nước ngoài đòi hỏi lượng thông tin rất lớn trong thời gian rất ngắn.
Đồng thời, việc áp dụng các khái niệm kinh tế phi thị trường (NME) hay tình hình thị trường đặc biệt (PMS) có thể làm tăng rủi ro đẩy biên độ thuế lên cao. Các nội dung cáo buộc mới như trợ cấp tiền tệ, trợ cấp xuyên quốc gia, bóp méo thị trường nguyên liệu đầu vào và rà soát phạm vi sản phẩm khiến rủi ro càng tăng lên.
Hơn nữa, doanh nghiệp xuất khẩu thường bị điều tra nhiều biện pháp cùng lúc và thường cùng Trung Quốc hay Ấn Độ trở thành đối tượng điều tra.
Khuyến nghị dành cho các hiệp hội, ngành hàng
Thực tế ứng phó thời gian qua cho thấy gần 50% số vụ việc được hỗ trợ đều kết thúc có lợi (áp thuế 0%, thuế thấp), giúp doanh nghiệp duy trì xuất khẩu. Để phát huy tối đa vai trò là "lá chắn" bảo vệ cộng đồng doanh nghiệp thành viên, Cục Phòng vệ thương mại khuyến nghị các hiệp hội ngành hàng thực hiện ngay 5 hành động.
Một là, phối hợp chặt chẽ với Chính phủ. Hiệp hội cần chủ động đóng vai trò là đầu mối tập hợp dữ liệu, bằng chứng thực tế và đưa ra tiếng nói, quan điểm chung mang tính đại diện cho toàn ngành để gửi tới cơ quan điều tra nước ngoài.
Hai là, phổ biến và khai thác hệ thống cảnh báo sớm. Hiệp hội cần thường xuyên chuyển cảnh báo sớm và cập nhật thông tin vụ việc tới từng doanh nghiệp thành viên, giúp họ điều chỉnh kịp thời chiến lược sản xuất và xuất khẩu.
Ba là, thống nhất chiến lược toàn ngành. Khi một vụ việc xảy ra, hiệp hội cần đứng ra thống nhất chiến lược hành động chung và khuyến khích toàn bộ các doanh nghiệp trong ngành cùng tham gia ứng phó.
Bốn là, chủ động ngăn chặn hành vi lẩn tránh phòng vệ thương mại. Hiệp hội cần kịp thời phát hiện và cảnh báo các hành vi gian lận xuất xứ, chuyển tải bất hợp pháp hoặc lẩn tránh thuế phòng vệ thương mại trong nội bộ ngành.
Năm là, chủ động sử dụng công cụ phòng vệ thương mại khi cần. Khi nhận thấy hàng hóa nhập khẩu giá rẻ có dấu hiệu bán phá giá hoặc nhận trợ cấp gây thiệt hại cho sản xuất trong nước, hiệp hội cần chủ động tập hợp các doanh nghiệp nội địa để xây dựng hồ sơ, đề nghị Bộ Công Thương áp dụng các biện pháp phòng vệ thương mại hợp pháp ngay trên sân nhà.
Phòng vệ thương mại không còn là câu chuyện riêng lẻ của từng doanh nghiệp mà là cuộc chiến sinh tồn của cả ngành hàng trong kỷ nguyên hội nhập. Với phương châm hành động "Tập hợp tiếng nói ngành – chia sẻ thông tin – phối hợp hành động", các hiệp hội ngành hàng chính là điểm tựa vững chắc để đưa các ngành xuất khẩu chủ lực của Việt Nam vượt qua sóng gió bảo hộ thương mại, vươn tầm phát triển bền vững.

