'Hằng số' hạnh phúc
VHXQ - Trong đời sống hôn nhân ở xứ Quảng, có những lễ nghi khác biệt do tập quán và môi trường sinh thái vẫn đang lưu giữ, cũng có một vài thói quen đã thay đổi theo thời gian để tiệm cận với nếp sống mới. Nhưng dù thế nào, đích đến vẫn là giá trị hạnh phúc của lứa đôi.

Lễ vật nhà trai mang tặng nhà gái trong đám cưới Cơ Tu. Ảnh: Trần Tấn Vịnh
Lạ lẫm và thú vị
Hai người đàn ông đóng khố khiêng một con heo, ở hàng bên phải có những cô gái gùi chiêng, ché... sau lưng. Với cụm ảnh về chuyện chuẩn bị lễ vật trong ngày cưới, cảnh nhà trai trên đường mang lễ vật sang tặng nhà gái, cảnh cô dâu - chú rể trùm chăn trong lễ pà zùm..., đó là những hình ảnh của một đám cưới Cơ Tu được tác giả Trần Tấn Vịnh đặc tả trong tập sách ảnh Người Cơ Tu ở Quảng Nam (NXB Thông Tấn, 2009).
Những bức ảnh do TS. Trần Tấn Vịnh chụp vào năm 2004 ở xã Chà Vàl, huyện Nam Giang, tỉnh Quảng Nam (cũ) giúp chúng ta nhận ra sắc thái riêng biệt trong lễ cưới của đồng bào vùng cao. Với người Cơ Tu, đám cưới là nghi lễ quan trọng nhất trong đời. Chính điều kiện sống và cách thức ứng xử đã tạo nên không gian văn hóa riêng của mỗi bản làng.
Theo tập tục, nhà trai mang theo động vật bốn chân (còn sống) và cơm tẻ sang đãi nhà gái, đồng thời tặng đồ kim loại, sành sứ, đồ đan lát, chiếu chăn. Nhà gái mang sang nhà trai các loại gia cầm hai chân, cá, ếch, xôi nếp và tặng đồ dệt, đồ đan, gùi...
Hát lý cũng góp phần đưa tập tục cưới xin của đồng bào vùng cao xứ Quảng vượt lên những lễ nghi thông thường. Công trình Phong tục - tập quán - lễ hội Quảng Nam do Sở Văn hóa - Thông tin tỉnh Quảng Nam ấn hành tháng 9/2004 dành nhiều trang khảo tả hôn lễ của các dân tộc thiểu số.

Cô dâu, chú rể Cơ Tu trùm chăn trong lễ pà zùm, chính thức trở thành vợ chồng. Ảnh: Trần Tấn Vịnh
Quá trình đi đến hôn nhân thường kéo dài 2 - 3 năm, qua ba giai đoạn: dạm ngõ, ăn hỏi và lễ cưới. Ngay từ giai đoạn đầu tiên, hát lý đã có đất diễn. “Ơ... Mặt trời mọc phải có đường đi, con dao phải có vỏ, cái gùi phải có dây mới gùi được, cái nỏ có tên mới bắn được, đũa cũng phải có đôi. Ơ... Mọi thứ đều có đôi, nên ông bà phải cho chúng nó thành đôi vợ chồng với nhau như cây ngô nhiều trái, nhiều hạt. Ơ...”, ông mối bên nhà trai cất giọng hát lý để thuyết phục nhà gái.
Nếu ở vùng cao, tập tục cưới xin được bồi đắp bởi những nghi lễ và lời hát lý, thì xuống vùng trung du và đồng bằng, nhiều phong tục thú vị khác cũng được lưu giữ. Ở Quế Sơn cũ, lễ vật cưới không có đầu heo; người Hoa ở Hội An có tục cha mẹ chồng tặng con dâu trái lựu trước khi bước vào nhà (chữ “lựu” trong “lựu khai bách tử”, tượng trưng cho con đàn cháu đống)...
“Dịch chuyển” theo nếp sống mới
Hơn 20 năm sau ngày bấm máy bức ảnh “Lễ vật nhà trai mang tặng nhà gái”, TS. Trần Tấn Vịnh nhận định, nhiều tập tục truyền thống vẫn được cộng đồng vùng cao lưu giữ, có lẽ bởi không gian sống ít bị tác động, xáo trộn. “Nghi thức cưới xin của người Xê Đăng, Ca Dong hay lắm! Người Cơ Tu thú vị với hát lý; người Giẻ Triêng tuyệt vời với câu chuyện về củi hứa hôn”, ông Vịnh chia sẻ.

Một đám cưới tập thể ở vùng đồng bằng Quảng Nam cũ. Ảnh: Thuận Triều
Dĩ nhiên, theo thời gian, quan hệ hôn nhân ở vùng cao xứ Quảng cũng dần được điều chỉnh theo nếp sống mới. Ở đồng bằng và đô thị, nhịp sống hiện đại cùng tác động của nghề nghiệp, tập quán lao động, di cư và giao thoa văn hóa càng làm đời sống hôn nhân đổi thay rõ nét. Đó là sự dịch chuyển lớn trong cách nghĩ.
Từng có những đám cưới thời kháng chiến giản đơn với vài gói thuốc lá, kẹo lạc, rồi những đám cưới tập thể tiết kiệm... Gần đây, tiệc cưới thường được tổ chức vào cuối tuần để khách tham dự đông đủ hơn. Thông gia ở các vùng miền cũng cởi mở hơn trước những khác biệt về phong tục, còn các nghi thức dần được giản lược...
Ở vùng biển Bình Minh (huyện Thăng Bình cũ, nay thuộc xã Thăng An), trong danh mục lễ vật của nhà trai mang sang nhà gái luôn có “dây mành”. Dây mành là một giàn lưới dài và rộng vài chục mét. Xưa, cứ khoảng 10 ngư dân góp 10 “dây mành” là đủ để họ có tay lưới lớn.
“Đồng tư ngư chung - tức nhà nông thường làm riêng còn nghề biển phải chung thuyền. Ở vùng biển làm nghề lưới mành, đàng gái bắt buộc phía đàng trai phải có ít nhất 1 dây mành làm lễ vật. Nghề biển, cứ vào mùa thì chung dây mành, cuối mùa lại chia ra, ai nấy tự mang về nhà để vá lưới hay thay mới”, ông Trương Công Hùng, nguyên Trưởng phòng Văn hóa - Thông tin huyện Thăng Bình, nói.
Nhưng đó là chuyện của hơn 15 năm trước. Giờ đây, ông Hùng không còn thấy lễ vật đó trong lễ cưới của người miền biển Bình Minh quê ông nữa. Có thể cách thức khởi nghiệp của cộng đồng ngư dân đã khác. Ai đủ điều kiện làm chủ thì vay vốn, hoặc kêu gọi người khác chung cổ phần để mua sắm ngư lưới cụ, không đến nỗi phải “góp”... Cứ thế, khi nghề nghiệp thay đổi, rộng hơn là đời sống thay đổi, thì đám cưới cũng dần đổi thay theo. Nhưng có thế nào thì đích đến vẫn là “hằng số” hạnh phúc mà lứa đôi đang theo đuổi.
