Hà Nội ấn định khung giá dịch vụ quản lý vận hành chung cư
Từ đầu tuần này, khung giá dịch vụ quản lý vận hành chung cư trên địa bàn Hà Nội chính thức được áp dụng theo Quyết định số 25/2026/QĐ-UBND do UBND thành phố Hà Nội ban hành ngày 13/2/2026.
Theo đó, mức giá dịch vụ quản lý vận hành chung cư được tính trên diện tích sàn thông thủy (đồng/m²/tháng) và phân theo loại hình chung cư.
Cụ thể, đối với nhà chung cư không có thang máy, giá tối thiểu là 700 đồng/m²/tháng và tối đa 5.000 đồng/m²/tháng.
Với nhà chung cư có thang máy, mức thu dao động từ 1.200 đồng/m²/tháng đến 16.500 đồng/m²/tháng.
Khung giá này không bao gồm một số khoản chi phí như bảo hiểm cháy nổ bắt buộc; thù lao của các thành viên Ban quản trị; cũng như các khoản thu từ dịch vụ cao cấp như tắm hơi, bể bơi, truyền hình cáp, internet và các tiện ích gia tăng khác.

Từ đầu tuần này, khung giá dịch vụ quản lý vận hành nhà chung cư trên địa bàn Hà Nội chính thức được áp dụng theo Quyết định số 25/2026/QĐ-UBND do UBND thành phố Hà Nội ban hành ngày 13/2/2026.
Bên cạnh việc quy định khung giá, quyết định mới cũng làm rõ trách nhiệm của chính quyền cơ sở trong quản lý, giám sát hoạt động vận hành chung cư.
Đối với nhà chung cư thuộc tài sản công, UBND các xã, phường có trách nhiệm chủ trì kiểm tra hoạt động của chủ đầu tư, đơn vị quản lý vận hành và Ban quản trị trong quản lý tài chính; đôn đốc việc thực hiện chế độ báo cáo; đồng thời giải quyết các tranh chấp phát sinh liên quan đến hoạt động của tòa nhà.
Trường hợp phát sinh vướng mắc vượt thẩm quyền, UBND cấp xã sẽ tổng hợp, báo cáo về Sở Xây dựng Hà Nội để chủ trì, phối hợp với Sở Tài chính Hà Nội và cơ quan thuế tham mưu UBND Thành phố xem xét, xử lý.
Đối với các chung cư không thuộc tài sản công, UBND cấp xã có trách nhiệm giải quyết tranh chấp liên quan đến kinh phí quản lý vận hành, việc bàn giao, quản lý và sử dụng kinh phí bảo trì phần sở hữu chung theo quy định của Luật Nhà ở 2023.
Việc áp dụng khung giá mới được kỳ vọng sẽ tạo cơ sở pháp lý rõ ràng hơn trong quản lý phí dịch vụ chung cư, tăng tính minh bạch trong vận hành, đồng thời góp phần hạn chế tranh chấp giữa cư dân, chủ đầu tư và đơn vị quản lý trên địa bàn Thủ đô.
































