'Góc khuất Trường sơn' và muôn mặt của cuộc chiến!
Với giọng văn thủ thỉ, tự sự, đa giọng điệu, vai kể linh hoạt, nhiều hình ảnh so sánh, cách kể xen lẫn quá khứ và hiện tại, những câu chuyện trong 'Góc khuất Trường Sơn' của Phạm Việt Long thể hiện tình yêu thương, niềm tin, lòng bao dung, không chỉ là tình đồng đội, đồng chí mà còn có cả tình yêu đôi lứa, tình cảm gần gũi, thiêng liêng giữa người với người.

Có lẽ những ai đã từng đi qua hai cuộc chiến tranh đều có một thời tuổi trẻ mà khí thế và tinh thần “Quyết tử cho Tổ Quốc quyết sinh” lớn lao như một lẽ sống. Khi ấy, những người thanh niên yêu nước mang trong mình lý tưởng “đời người chỉ sống có một lần, sống sao cho khỏi hoài, khỏi phí” và tham gia cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ Quốc, giành độc lập dân tộc bằng cả ý chí, niềm tin và sức trẻ.
Nhưng thực tế cuộc chiến đấu đầy gian khổ, khốc liệt, khác xa trí tưởng tượng và không thể đong đếm bằng sự trải nghiệm của riêng ai. Tất cả hiện lên đầy sinh động trong cuốn sách “Góc khuất Trường Sơn” của tác giả Phạm Việt Long, do Nhà xuất bản Hội Nhà văn ấn hành.
Cảm ơn những người còn ở lại!!
Trong khung cảnh núi rừng Trường Sơn vừa thiêng liêng, vừa hùng vĩ, hình ảnh những con người bình dị trong khói lửa chiến tranh vẫn luôn là tâm điểm của ngòi bút Phạm Việt Long, khi ông hướng lòng mình tái hiện sự quả cảm, niềm tin và sự hi sinh của họ. Ngay phần đầu tập truyện ngắn, tác giả kể chuyện cô gái gùi đạn mang theo nhành hoa dã quỳ vượt Trường Sơn, cô giáo dạy chữ trong lán học tạm bợ, người lính giữ kho đến người lính tải thương cõng đồng đội giữa bom bi... Truyện ngắn “Hoa dã quỳ vẫn nở” mở đầu cho “Góc khuất Trường Sơn” được viết bằng giọng văn lãng mạn về một loài hoa, một người con gái mỏng manh nhưng kiên cường, cùng những khoảnh khắc vừa thực vừa mộng, vượt lên trên cả bom đạn và cái chết luôn cận kề.
Như dòng kí ức trở về một cách sống động, mạch truyện được dẫn dắt từ mơ đến thực, uyển chuyển, tinh tế. Trường Sơn “sống lại” với những điệu múa của các chị trong đoàn văn công dã chiến, có người nghệ sĩ với “Vũ điệu cuối cùng” vẫn mang cái đẹp xuất hiện ở nơi ác liệt, tăm tối nhất. Cũng có những khoảnh khắc bừng sáng khi ranh giới cái chết-sự sống không có quá xa vời, hơi ấm tình người, như bản giao hưởng, được chạm đến cái đẹp, vừa là sự thật, vừa như ảo ảnh xoa dịu linh hồn người lính trẻ, mãi mãi nằm lại với Trường Sơn.
Nhưng có lẽ, tác giả và bất cứ ai từng trải qua một thời bom đạn, cũng không thể nào quên những câu chuyện về đồng đội, về Trường Sơn đầy gian khổ và hi sinh, đầy tự hào nhưng cũng rất bi thương. Qua truyện ngắn “Dưới bóng đại thụ”, một phần nào đó, cảnh rừng Trường Sơn, thời điểm 1972, hiện lên dưới con mắt người đọc nhiều phần khắc nghiệt hơn là sự lãng mạn. Tác giả quan sát, miêu tả cảnh rừng Trường Sơn lúc ngái ngủ “mắt vẫn mở, tai vẫn nghe, như con thú già lặng lẽ canh chừng chính mình”, với những thân cây già cỗi văn mình, kêu ken két như hàm răng người hấp hối”. Ở Trường Sơn, đêm không đến bằng bóng tối. Nó đến bằng gió, bằng mùi, bằng cái rùng mình của đất, bằng tiếng cây nứt ở đâu đó, sâu trong rừng già. Mưa rừng Trường Sơn không rào rào mà đọng lại trên từng sợi râu, từng vết xước da. Không tiếng sét nhưng gió rít lên trong từng lỗ tai, từng khớp gối, gió rít qua đỉnh rừng như tiếng ru của người đàn bà đang mất con. Cũng có khi mưa rừng như thác đổ, quất ràn rạt trên tán lá, rát bỏng cả mặt mày. Đất đỏ trôi thành dòng, dẻo quánh, núi rừng hóa thành biển nước, đường mòn trơn trượt như bôi mỡ, người đi phải chống gậy, dò dẫm từng bước…
“Góc khuất Trường Sơn” còn hiện ra với những khu rừng, không phải như trong bản đồ quân sự mà như một quái vật đa tầng, vừa là địa ngục vừa là miệng cười của thần Chết, khi một cú nứt nhỏ trên mặt đất, cả quả đồi sụp xuống với hàng nghìn tấn đất đá vùi sống cả tổ xe. Cái chết đến bất ngờ, rùng rợn, rồi tới nước lũ như một bức tường đục ngầu, cuốn phăng, nhấn chìm, chỉ còn chiếc áo lính nổi lên như vết máu xanh lơ lửng. Và rồi sét đánh, cây đổ, tiếng xương gãy vang lên khô khốc, như cành củi mục bị bẻ ngang. Những cái chết thương tâm cướp đi sinh mạng chàng lính trẻ mới mười chín, đôi mươi, trong giấc mơ khi nằm dưới bóng đại thụ vẫn cất tiếng gọi mẹ. Có những điều không phải nhớ bởi nó như lớp vỏ thứ hai, trong kí ức của người còn sống bởi những cái chết không chịu yên. Và có gì lạ đâu, những trận bom dội xuống rừng Trường Sơn khiến cho đất bị xé toạc, dòng nước lặng như mặt gương chưa kịp soi ai thì pháo giặc lại tru lên như loài thú đói xé bầu trời. Tiếng mưa rừng như ngàn linh hồn đổ xuống, như từng giọt thở than chưa kịp kết thành câu. Thân thể người lính gục xuống như thân cây cháy rỗng ruột, “rừng ôm anh vào lòng với những tán lá đen đặc, như cánh tay của bà mẹ cổ xưa ôm lấy đứa con đã tan vào lòng đất”… cùng sự “chứng kiến” của thời gian trôi nhanh, lạnh, mang theo những mảnh thương nhớ, luôn hi vọng có thể một ngày tìm đường trở về khi đất nước không còn tiếng súng.
“Góc khuất Trường Sơn”- nơi có những con người lặng lẽ, âm thầm, không có chiến công lẫy lừng, chỉ có một công việc suốt những năm dài-nối điểm này đến điểm khác, nối người này với người kia, nối vết thương với sự sống…nhưng nếu không có những bước chân không tên, những bàn tay không rực rỡ nhưng không bao giờ buông bỏ, thì liệu có chiến thắng của ngày hôm nay? Và “Sợi giao liên” là câu chuyện về những con người như thế. Đó còn là chuyện kể về cái chết của một nhà thơ- người lính trên đường đi tìm người yêu thì bị phục kích. Máu anh nhuộm đỏ vạt rừng, linh hồn hóa thần bảo hộ, lặng lẽ canh giữ dốc Cọp-nơi giặc thường đổ quân, để cảnh báo cho những người đi sau. Cái chết của cô thanh niên xung phong tên Đào, bị cuốn vào dòng nước lũ khi vác gạo qua sông, mãi nằm lại trên đồi cát vàng; cô giao liên hi sinh thân mình để cứu đoàn cán bộ trong một trận phục kích … Có người lính nằm lại mãi mãi với núi rừng bởi cơn sốt rét ác tính. Anh chết khi vẫn nằm trên chiếc võng nối giữa hai thân cây, như nốt nhạc lạc lõng, chơ vơ giữa tầng lá xanh ngắt, dang dở ước mơ tuổi trẻ: giải phóng miền Nam, trở về với mẹ, học đại học… (truyện ngắn “Chiếc nôi lưng chừng trời”). Họ không tan biến! Linh hồn họ vẫn ở lại với Trường Sơn, lặng lẽ cứu giúp những linh hồn lạc lối giữa hoang vu. Trường Sơn thiêng liêng bởi không chỉ có những người lính nằm xuống mà là nơi họ tiếp tục “đứng dậy”- trong hình hài khác, để bảo vệ những người đồng chí. Và cũng là lời thì thầm của chính tác giả: “Nếu bạn còn sống sót, có thể vì một người nào đó đã chết cho bạn rồi- “cảm ơn những người còn ở lại”.
Hậu chiến - hồi âm sâu thẳm còn vang vọng
Không bom đạn, không tiếng súng, những câu chuyện thời hậu chiến trong cuốn sách “Góc khuất Trường Sơn” lại thấm đẫm tình người, tái hiện những số phận khác nhau khi trở về cuộc sống đời thường với nhiều ngã rẽ. Đó là Trung sĩ Giang nhận nhiệm vụ trấn giữ một kho dự trữ quân nhu, với lời dặn dò từ thủ trưởng: “Chừng nào chưa có lệnh thì tuyệt đối không được rời vị trí”. Chiến tranh kết thúc nhưng anh không được biết, cũng không có bất cứ liên lạc nào với đồng đội, mãi cho tới khi bị buộc phải rời đi. Những con người tìm đến nhau khi không biết ngày mai còn hay mất và để lại mầm sống cho đời, là sự im lặng bí mật trong mối tình tay ba, chọn cách hành xử cao thượng nhất bằng sự chấp nhận và tha thứ cho người mình yêu… Và ở đó, giữa thời bình đủ đầy, người ta vẫn nhớ, vẫn thèm những bát canh chua bạc hà –bữa ăn trong những ngày gian khó, với niềm tin sẽ có ngày trở về. Và một gương mặt khác của nỗi đau thời hậu chiến- chất độc da cam để lại những di chứng cho thế hệ sau, như một nỗi ám ảnh về cuộc chiến mới, không bom đạn nhưng thấp thỏm lo âu, đau đớn, mất mát (truyện ngắn “Rình”).
Chiến tranh, có người thắng cuộc và kẻ thua cuộc. Nhưng thế hệ sau lớn lên không phải bằng những nỗi đau của quá khứ, với mặc cảm và sự thù hằn mà bằng chính sự trải nghiệm, nhìn và thấu cảm những hình hài thật sự của kí ức. Như một khúc hòa ca của những cái tôi không cần đồng phục để thống nhất, sự trở về của những người con xa xứ, từng ở bên kia chiến tuyến như để sống tiếp những điều mà thế hệ trước chưa kịp sống (truyện ngắn"Giữa hai cung đường”).
Với giọng văn thủ thỉ, tự sự, đa giọng điệu, vai kể linh hoạt, nhiều hình ảnh so sánh, cách kể xen lẫn quá khứ và hiện tại, những câu chuyện trong “Góc khuất Trường Sơn” thể hiện tình yêu thương, niềm tin, lòng bao dung, không chỉ là tình đồng đội, đồng chí mà còn có cả tình yêu đôi lứa, tình cảm gần gũi, thiêng liêng giữa người với người. Tác giả Phạm Việt Long tái hiện chiến tranh bằng sự chân thực, nhân bản, không chỉ bằng cảm hứng ngợi ca mà còn đi sâu vào những ám ảnh kéo dài thời hậu chiến. Cuộc chiến khốc liệt hiện ra không chỉ bằng những thương vong, mất mát thực tế mà sâu thẳm trong tâm hồn- “chiến tranh trong tâm khảm”, chẳng hạn như những cơn đói bào mòn tâm hồn, dục vọng, khao khát sống và ranh giới đạo đức (truyện ngắn “Đói”, “Dục vọng”). Trong khi đó, truyện ngắn “Vết hằn trên dốc cọp” và “Phản bội”, “Tiếng cười không tắt”… lại ám ảnh người đọc với những quyết định tàn khốc, trong bối cảnh chia cắt và nghi ngờ. Nhưng trên hết, tác giả Phạm Việt Long luôn gửi gắm niềm tin về con người trong mọi hoàn cảnh, dù có thể vấp ngã, ám ảnh bởi chiến tranh, nghèo đói và dục vọng nhưng vẫn đinh ninh về sự hồi sinh nhờ tình thương, kí ức và lương tri.
Đến nay, tác giả Phạm Việt Long đã xuất bản 5 tập truyện ngắn: Âm bản (NXB Hội Nhà văn, 1999), Ngờ vực (NXB Dân trí, 2006), Bi Bi và Mặt Đen (bộ truyện thiếu nhi 5 tập (NXB Dân trí, 2016), Phong lan về trời (NXB Dân trí, 2020), Góc khuất Trường Sơn (NXB Hội Nhà văn, 2025). Việc viết cũng như chắp nối kí ức và níu giữ ngọn lửa niềm tin, bởi như tác giả đã từng chia sẻ, như một thông điệp gửi gắm của một người được trở về, qua đứa con tinh thần này: “Mỗi bước đi là một đoạn dây - nối những điều từng bị chiến tranh xé rách: Một lời chưa nói, một cái ôm còn dang dở, một linh hồn chưa siêu thoát. Có những ngọn lửa cháy lên rồi lụi tàn. Ngày mai - hi vọng”./.































