Gỡ nỗi 'sợ lớn' cho hộ kinh doanh
Doanh thu vài tỷ đồng nhưng năng lực quản trị vẫn ở quy mô hộ gia đình, trong khi yêu cầu về sổ sách, hóa đơn, chứng từ ngày càng cao khiến không ít hộ kinh doanh ngại mở rộng. Đề xuất nâng ngưỡng tính thuế theo doanh thu lên 10 tỷ đồng được kỳ vọng gỡ một rào cản để hộ kinh doanh dám lớn.
Doanh thu tăng, chi phí tuân thủ cũng tăng
Với doanh nghiệp lớn, kế toán, hóa đơn, chứng từ và quy trình lưu trữ hồ sơ là những phần việc đã được tổ chức thành hệ thống. Nhưng với nhiều hộ kinh doanh, nhất là các cơ sở gia đình, đây lại là câu chuyện khác.
Một quán ăn vài lao động, một cửa hàng nhỏ, cơ sở sản xuất hay hộ kinh doanh nông sản có thể đạt doanh thu vài tỷ đồng mỗi năm, nhưng chủ cơ sở vẫn phải tự làm hầu hết mọi việc: Bán hàng, mua nguyên liệu, quản lý tiền, trả lương, giao dịch với khách hàng. Quy mô doanh thu tăng không có nghĩa năng lực quản trị tăng tương ứng.

Hộ kinh doanh trên địa bàn phường Hoàng Liệt. Ảnh: An Thanh
Theo bà Lê Thị Duyên Hải, Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hội Tư vấn Thuế Việt Nam, nguyên Vụ trưởng Vụ Kê khai và Kế toán thuế thuộc Tổng cục Thuế, ngưỡng 3 tỷ đồng hiện nay vẫn khá thấp nếu xét về năng lực quản trị thực tế của nhiều hộ kinh doanh. Khi vượt ngưỡng, hộ phải quan tâm đến việc hạch toán doanh thu, chi phí, hóa đơn, chứng từ và điều kiện để các khoản chi được chấp nhận.
Một quán ăn có thể mua nguyên liệu từ hộ sản xuất nhỏ; cơ sở chế biến mua nông sản trực tiếp từ nông dân; cửa hàng lấy hàng từ những người kinh doanh khác. Không phải giao dịch nào cũng có đầy đủ hóa đơn, chứng từ theo yêu cầu của một hệ thống kế toán chuẩn hóa.
Bởi vậy, câu hỏi của ông Đậu Anh Tuấn, Phó Tổng Thư ký, Trưởng ban Pháp chế Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI), rất đáng suy nghĩ: “Một hàng phở làm sao chứng minh được con gà mua ở đâu mà có hóa đơn, chứng từ?”.
Muốn tính thuế theo phương pháp doanh thu trừ chi phí, hộ kinh doanh phải tổ chức sổ sách, lưu giữ hóa đơn, chứng từ, kiểm soát giao dịch và chứng minh chi phí được trừ. Với những hộ chưa có nhân sự kế toán, đây là một gánh nặng không nhỏ.
Bà Lê Thị Yến, Giám đốc Công ty TNHH Tư vấn thuế Hà Nội (AME Group) cho rằng, với hộ kinh doanh có doanh thu từ 10 tỷ đồng trở xuống, phương pháp doanh thu trừ chi phí có thể tạo ra chi phí tuân thủ lớn. Muốn làm đúng, hộ phải có con người, quy trình và bộ máy kế toán tương đối bài bản. Nếu không tự thực hiện được, họ phải thuê dịch vụ.
Khi đó, chi phí không chỉ nằm ở tiền thuế. Đó còn là tiền thuê kế toán, phần mềm, thời gian xử lý chứng từ và rủi ro sai sót. Nguồn lực đáng lẽ dành cho sản xuất, kinh doanh, tìm kiếm thị trường lại phải phân bổ cho công việc hành chính. Đáng lo hơn, điều này có thể tạo ra tâm lý “sợ lớn”.
Hộ kinh doanh càng mở rộng thì yêu cầu tuân thủ càng cao. Trong khi chưa đủ năng lực quản trị, họ có thể chọn cách giữ quy mô nhỏ để tránh phát sinh nghĩa vụ phức tạp. Nếu chính sách khiến người kinh doanh ngại mở rộng, thì mục tiêu thúc đẩy khu vực kinh tế tư nhân sẽ khó đạt được.
Cần một ngưỡng tuân thủ hợp lý
Từ thực tế trên, đề xuất nâng ngưỡng áp dụng phương pháp tính thuế theo tỷ lệ trên doanh thu lên 10 tỷ đồng/năm đang được quan tâm. Theo phương án Bộ Tài chính nghiên cứu, hộ kinh doanh có doanh thu không quá 10 tỷ đồng/năm có thể tính thuế theo tỷ lệ phần trăm trên doanh thu, thay vì phải xác định thu nhập bằng doanh thu trừ chi phí. Nhóm này cũng được định hướng giảm yêu cầu về sổ sách kế toán.
Theo số liệu được đưa ra, cả nước có khoảng 2,7 triệu hộ kinh doanh, trong đó chỉ khoảng 0,14% có doanh thu trên 10 tỷ đồng/năm. Như vậy, khoảng 99,86% hộ kinh doanh có thể nằm trong nhóm chịu tác động nếu ngưỡng mới được áp dụng. Nếu được thiết kế hợp lý, chính sách có thể giảm đáng kể chi phí kế toán, chứng từ và nhân sự cho hàng triệu hộ. Quan trọng hơn, nó có thể tháo gỡ tâm lý ngại mở rộng.
Theo bà Lê Thị Yến, nên để hộ kinh doanh có quyền lựa chọn phương pháp tính thuế phù hợp với năng lực quản trị. Những hộ đã có bộ máy kế toán, quản trị bài bản có thể lựa chọn tính trên lợi nhuận. Những hộ vận hành đơn giản có thể tính trực tiếp trên doanh thu.
Cách tiếp cận này tạo ra một “bậc thang” phù hợp hơn. Hộ kinh doanh không bị buộc phải nhảy ngay từ mô hình quản trị đơn giản sang một hệ thống kế toán phức tạp.
Ông Đậu Anh Tuấn cũng cho rằng, chính sách cần tập trung vào những giải pháp mà doanh nghiệp có thể tự thực hiện ngay sau khi luật được ban hành. Thực tế cho thấy, có những chính sách hỗ trợ rất tốt về tiền, vốn, đất đai nhưng khi xuống cơ sở, doanh nghiệp thụ hưởng được rất ít.
Tuy nhiên, giảm yêu cầu tuân thủ không đồng nghĩa với giảm hiệu quả quản lý thuế. Đây mới là bài toán cần giải quyết song song. Nếu tính thuế trên doanh thu, cơ quan quản lý vẫn phải kiểm soát được doanh thu thực tế, ngăn ngừa việc chia nhỏ hoạt động, che giấu doanh thu hoặc lợi dụng ngưỡng để né nghĩa vụ. Muốn vậy, quản lý thuế cần dựa nhiều hơn vào dữ liệu, hóa đơn điện tử, thanh toán điện tử và phân tích rủi ro, thay vì đặt gánh nặng chứng minh lên từng hộ kinh doanh.
Theo bà Lê Thị Duyên Hải, nhiều hộ kinh doanh và doanh nghiệp nhỏ mua đầu vào trực tiếp từ nông dân, ngư dân hoặc các hộ sản xuất nhỏ. Đây là những nguồn cung không phải lúc nào cũng có hóa đơn theo cách thức truyền thống. Khi yêu cầu chứng minh chi phí được đơn giản hóa, việc kết nối với khu vực sản xuất này cũng có thể thuận lợi hơn.
Như vậy, tháo một nút thắt về thuế có thể đồng thời tháo một nút thắt của chuỗi cung ứng. Điều cần tránh là nhìn việc nâng ngưỡng 10 tỷ đồng đơn giản như một chính sách “nới lỏng” cho hộ kinh doanh. Vấn đề lớn hơn là xây dựng một lộ trình để khu vực kinh doanh nhỏ từ dễ tuân thủ đến quản trị bài bản, từ hộ kinh doanh đến doanh nghiệp, mà không tạo ra cú sốc về chi phí.
