Gỡ điểm nghẽn thể chế để đánh thức tiềm năng kinh tế biển

Trong những năm qua, kinh tế biển Việt Nam đã ghi nhận nhiều kết quả tích cực nhưng vẫn chưa phát huy tương xứng với tiềm năng. Những điểm nghẽn về thể chế, quy hoạch và quản trị không gian biển đang đặt ra yêu cầu cấp thiết phải hoàn thiện chính sách, tạo động lực mới cho phát triển kinh tế biển xanh, bền vững.

Các đại biểu trao đổi tại Phiên Tọa đàm của Hội thảo Quốc gia “Hoàn thiện thể chế, chính sách thúc đẩy phát triển kinh tế biển bền vững”. Ảnh: D.T

Các đại biểu trao đổi tại Phiên Tọa đàm của Hội thảo Quốc gia “Hoàn thiện thể chế, chính sách thúc đẩy phát triển kinh tế biển bền vững”. Ảnh: D.T

Chuyển từ quản lý biển sang quản trị biển

Việt Nam sở hữu hơn 3.260 km bờ biển, vùng biển rộng khoảng 1 triệu km² cùng hệ thống hơn 4.000 hòn đảo, song đóng góp của kinh tế biển vào nền kinh tế vẫn chưa tương xứng với tiềm năng.

Phát biểu tại Hội thảo Quốc gia “Hoàn thiện thể chế, chính sách thúc đẩy phát triển kinh tế biển bền vững” do Bộ Nông nghiệp và Môi trường (NN&MT) phối hợp với Ban Chính sách, chiến lược Trung ương và UBND tỉnh Nghệ An tổ chức chiều 05/6, Thứ trưởng Bộ NN&MT Đặng Ngọc Điệp cho rằng nguyên nhân quan trọng nằm ở những điểm nghẽn thể chế kéo dài, đặc biệt là tình trạng chồng chéo giữa các luật và cơ chế quản lý phân tán theo ngành. Sự giao thoa giữa Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo với Luật Điện lực, Luật Hàng hải cùng nhiều quy định liên quan đã khiến quá trình triển khai các dự án kinh tế biển phát sinh thêm thủ tục, làm gia tăng chi phí và giảm sức hấp dẫn đầu tư.

“Trong bối cảnh xuất hiện nhiều lĩnh vực mới như điện gió ngoài khơi, nuôi biển công nghệ cao, khai thác khoáng sản biển sâu hay các mô hình kinh tế biển xanh, yêu cầu sửa đổi Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo là vấn đề cấp thiết nhằm tạo hành lang pháp lý phù hợp với thực tiễn phát triển” - Thứ trưởng Đặng Ngọc Điệp nhấn mạnh.

Nhìn từ góc độ hoạch định chính sách, TS. Vũ Mạnh Hùng - Vụ trưởng Vụ Kinh tế ngành, Ban Chính sách, chiến lược Trung ương cho rằng, để đưa kinh tế biển trở thành động lực tăng trưởng mới cần triển khai đồng bộ nhiều giải pháp, trong đó trước hết là đổi mới tư duy quản trị biển theo hướng quản lý tổng hợp dựa trên hệ sinh thái thay cho cách tiếp cận đơn ngành. Cùng với đó là hoàn thiện thể chế pháp luật đồng bộ, minh bạch; tháo gỡ các chồng chéo để khơi thông nguồn lực; phát triển thị trường quyền sử dụng khu vực biển; huy động hiệu quả nguồn vốn xã hội thông qua tài chính xanh và hợp tác công - tư; thúc đẩy khoa học công nghệ, chuyển đổi số và xây dựng cơ sở dữ liệu biển quốc gia.

Ngoài ra, theo ông Hùng, các ngành kinh tế biển chủ lực như du lịch biển chất lượng cao, hàng hải - logistics, năng lượng tái tạo ngoài khơi, thủy sản công nghệ cao cần được ưu tiên phát triển song song với việc hình thành các ngành kinh tế biển mới như kinh tế sinh học biển và dược liệu biển.

Về phía cơ quan quản lý nhà nước, ông Nguyễn Quốc Toản - Cục trưởng Cục Biển và Hải đảo Việt Nam cho biết Dự thảo Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo (sửa đổi) đang được xây dựng theo hướng chuyển mạnh từ quản lý tài nguyên biển sang quản trị tổng hợp tài nguyên, không gian biển và môi trường biển. Điểm mới đáng chú ý là cơ chế quản lý, phân bổ và điều phối không gian biển theo Quy hoạch không gian biển quốc gia; bổ sung các công cụ xử lý xung đột trong sử dụng biển giữa các lĩnh vực như điện gió ngoài khơi, giao thông hàng hải, nuôi biển, du lịch hay bảo tồn sinh thái.

Dự thảo cũng đề xuất các cơ chế mới như đấu giá quyền sử dụng khu vực biển, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng khu vực biển và hồ sơ hải chính nhằm hạn chế cơ chế “xin - cho”, nâng cao tính minh bạch và tạo môi trường đầu tư ổn định. Bên cạnh đó, các chính sách ưu đãi cho năng lượng tái tạo ngoài khơi, logistics biển, nuôi biển công nghệ cao, kinh tế biển xanh và kinh tế carbon thấp cũng được đề xuất để tạo thêm động lực phát triển.

Thứ trưởng Bộ NN&MT Đặng Ngọc Điệp phát biểu tại Hội thảo. Ảnh: D.T

Thứ trưởng Bộ NN&MT Đặng Ngọc Điệp phát biểu tại Hội thảo. Ảnh: D.T

Cũng thống nhất quan điểm cho rằng cần sửa luật để hoàn thiện khung pháp lý, tuy nhiên theo PGS,TS. Nguyễn Chu Hồi - Phó Chủ tịch Hội Thủy sản Việt Nam điều quan trọng nữa là cần hình thành tư duy quản trị biển hiện đại. Theo ông Hồi, biển là không gian ba chiều với nhiều mục đích sử dụng khác nhau nên không thể tiếp tục quản lý theo cách tiếp cận đơn ngành. Theo đó, cần chuyển sang mô hình quản lý tổng hợp, liên ngành, dựa trên hệ sinh thái nhằm hài hòa lợi ích giữa các hoạt động kinh tế và giảm thiểu xung đột trong sử dụng không gian biển. Đồng thời, Luật sửa đổi cần làm rõ hơn các công cụ quản lý dành cho địa phương, nghiên cứu mô hình phân vùng chức năng không gian biển cấp tỉnh để tăng tính ứng dụng trong thực tiễn.

Đồng quan điểm, TS. Phạm Ngọc Sơn - nguyên Quyền Tổng Cục trưởng Tổng cục Biển và Hải đảo Việt Nam cho rằng trọng tâm của lần sửa luật này phải là chuyển từ “quản lý biển” sang “quản trị biển”, trong đó Nhà nước không chỉ thực hiện chức năng kiểm soát mà còn đóng vai trò điều phối, hỗ trợ và đồng hành cùng doanh nghiệp, cộng đồng để phát triển kinh tế biển bền vững.

Xây dựng không gian phát triển mới cho kinh tế biển xanh

Nếu thể chế được xem là chìa khóa mở đường thì quy hoạch không gian biển và cơ chế điều phối phát triển chính là điều kiện để khai thác hiệu quả nguồn lực biển.

Thực tiễn từ các địa phương cho thấy nhiều tiềm năng vẫn đang bị kìm hãm bởi những rào cản về hạ tầng, liên kết vùng và phân bổ không gian phát triển.

Tại Quảng Ninh, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Nguyễn Văn Công chỉ ra bốn “nút thắt” lớn gồm: độ mở kinh tế chưa tương xứng với tiềm năng cảng biển; hạ tầng hậu cần nghề cá và logistics biển còn hạn chế; mâu thuẫn không gian giữa công nghiệp, du lịch và bảo tồn; cùng những tác động ngày càng rõ nét của biến đổi khí hậu. Để tháo gỡ những điểm nghẽn này, địa phương đang triển khai đồng bộ các giải pháp như quản lý không gian biển theo ba hành lang kinh tế chức năng, phát triển hạ tầng logistics biển chuyên sâu, thúc đẩy chuyển đổi số trong quản trị biển và phát triển các ngành kinh tế biển mới.

Đối với tỉnh Thanh Hóa, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Cao Văn Cường cho biết tỉnh xác định kinh tế biển là trụ cột phát triển với năm lĩnh vực trọng tâm gồm cảng biển và logistics, công nghiệp ven biển, du lịch biển, thủy sản và liên kết vùng. Tuy nhiên, thu hút khu vực tư nhân vào kinh tế biển vẫn chưa tương xứng với tiềm năng, trong khi liên kết giữa các địa phương ven biển còn hạn chế. Từ thực tiễn đó, Thanh Hóa kiến nghị cần có định hướng rõ hơn về quy hoạch không gian biển và các cơ chế ưu đãi đặc thù nhằm thu hút đầu tư, đồng thời hỗ trợ ngư dân vươn khơi bám biển gắn với bảo vệ chủ quyền quốc gia.

Quang cảnh Hội thảo. Ảnh: D.T

Quang cảnh Hội thảo. Ảnh: D.T

Một trong những lĩnh vực được kỳ vọng tạo đột phá là nuôi biển công nghệ cao. Tuy nhiên, theo ông Nguyễn Xuân Lam - Tổng Thư ký Hiệp hội Nuôi biển Việt Nam, hiện nay người dân vẫn gặp nhiều khó khăn do thiếu cơ chế xác lập quyền sử dụng khu vực biển rõ ràng, thiếu công cụ quản lý đối với nuôi biển xa bờ và chi phí sử dụng mặt biển còn cao. Do đó, ông đề xuất cần có chính sách miễn, giảm tiền thuê mặt biển tương tự chính sách miễn thuế sử dụng đất nông nghiệp trước đây, đồng thời xây dựng cơ chế tín dụng phù hợp để huy động nguồn lực đầu tư cho nuôi biển công nghiệp ngoài khơi.

“Khi được bảo đảm quyền sử dụng ổn định và có cơ chế hỗ trợ thích hợp, ngư dân sẽ mạnh dạn đầu tư dài hạn, góp phần hình thành các vùng sản xuất quy mô lớn trên biển” - ông Lam nhấn mạnh.

Từ góc nhìn quốc tế, ông Hoàng Thành Vĩnh - cán bộ Chương trình Phát triển Liên hợp quốc (UNDP) tại Việt Nam, cho rằng thách thức lớn nhất hiện nay nằm ở khâu thực thi tại địa phương. Kinh nghiệm từ các mô hình quản trị biển tiên tiến cho thấy cần thiết lập cơ chế điều phối liên ngành thường xuyên để xử lý các xung đột phát sinh trong sử dụng không gian biển giữa thủy sản, du lịch, bảo tồn hay năng lượng tái tạo.

Trong khi đó, ông Văn Ngọc Thịnh - Tổng Giám đốc WWF-Việt Nam, nhấn mạnh việc phát triển kinh tế biển phải dựa trên nguyên tắc tôn trọng giới hạn của hệ sinh thái tự nhiên và cần đưa nội dung phục hồi thiên nhiên vào các chính sách, quy hoạch nhằm tạo cơ sở huy động nguồn lực cho bảo tồn đa dạng sinh học biển.

Về phía cơ quan quản lý nhà nước, Thứ trưởng Đặng Ngọc Điệp nhấn mạnh, Bộ NN&MT sẽ tiếp tục nghiên cứu hoàn thiện Dự thảo Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo (sửa đổi) theo hướng quản trị dựa trên công nghệ, dữ liệu dùng chung và quy hoạch thống nhất, đồng thời tháo gỡ các rào cản về thủ tục, chi phí sử dụng biển để thu hút đầu tư vào các ngành kinh tế biển mới.

“Triển khai đồng bộ các giải pháp trên, Việt Nam sẽ có cơ sở để khai thác hiệu quả hơn tiềm năng biển, hình thành các động lực tăng trưởng mới và hiện thực hóa mục tiêu phát triển kinh tế biển xanh, bền vững trong những thập niên tới” – Thứ trưởng Đặng Ngọc Điệp nhấn mạnh./.

DIỆU THIỆN

Nguồn Kiểm Toán: https://baokiemtoan.vn/bai-viet/go-diem-nghen-the-che-de-danh-thuc-tiem-nang-kinh-te-bien