Gỡ “điểm nghẽn” để phát triển nông nghiệp hữu cơ
Qua giám sát việc thực hiện Nghị quyết số 05/2023/NQ-HÐND, ngày 14-7-2023 của HÐND tỉnh (nay là thành phố) về chính sách hỗ trợ phát triển sản xuất nông nghiệp hữu cơ (NNHC) tại một số địa phương, đoàn giám sát Hội Nông dân thành phố ghi nhận nhiều mô hình đã được triển khai, bước đầu tạo nền tảng cho việc mở rộng sản xuất hữu cơ.

Lãnh đạo Hội Nông dân thành phố tham quan mô hình trồng hồ tiêu hữu cơ tại xã Sông Ray.
Tuy nhiên, quá trình chuyển đổi vẫn gặp không ít khó khăn về quy trình, kinh phí, kỹ thuật và đầu ra sản phẩm. Việc tháo gỡ những “điểm nghẽn” này được xem là yếu tố quan trọng để mở rộng diện tích sản xuất hữu cơ trong thời gian tới.
Nhiều tiềm năng phát triển nông nghiệp hữu cơ
Tại xã Sông Ray, sản xuất NNHC đã có những kết quả rõ nét hơn so với một số địa phương. Phó Chủ tịch UBND xã Sông Ray Bùi Trung Đông cho biết: Địa phương hiện có nhiều mô hình sản xuất theo hướng hữu cơ đối với hồ tiêu, lúa và sầu riêng.
Đáng chú ý, gần 18ha của Tổ hợp tác hồ tiêu hữu cơ xã Sông Ray đã chuyển đổi từ sản xuất thông thường sang sản xuất hữu cơ được 6 vụ (từ năm 2020-2026). Các thành viên duy trì sinh hoạt thường xuyên, 100% áp dụng nhân nuôi men vi sinh IMO vào sản xuất. Qua khảo sát của Trung tâm Chứng nhận phù hợp (Quacert), có một hộ với diện tích 2,2ha đủ điều kiện chứng nhận sản xuất theo tiêu chuẩn Liên minh châu Âu. Tuy nhiên, do thời điểm kiểm tra, đánh giá năm 2026, hộ đã thu hoạch hồ tiêu nên việc triển khai chứng nhận được thống nhất thực hiện vào năm 2027.
Cùng với hồ tiêu, mô hình sản xuất lúa theo hướng hữu cơ tại xã Sông Ray cũng được triển khai với sự phối hợp của cơ quan chuyên môn và Công ty cổ phần Tập đoàn Quế Lâm. Đến nay, diện tích lũy kế đạt gần 66ha. Ngoài ra, địa phương có 1 hộ sản xuất 1ha sầu riêng theo hướng hữu cơ.
Tuy vậy, việc tiếp cận chính sách hỗ trợ vẫn còn hạn chế. Theo địa phương, nguyên nhân là điều kiện hỗ trợ phải có dự án được cấp có thẩm quyền phê duyệt, trong khi các chủ thể sản xuất hữu cơ chủ yếu là hộ gia đình, cá nhân, tổ hợp tác nên việc xây dựng dự án còn khó khăn. Bên cạnh đó, quy trình sản xuất và định mức vật tư, phân bón cho từng loại cây trồng chưa được ban hành cụ thể; chi phí sản xuất hữu cơ cao nhưng đầu ra chưa tương xứng, chưa tạo động lực mạnh để nông dân chuyển đổi.
Ghi nhận tại xã Tà Lài, quá trình chuyển đổi sang NNHC mới ở giai đoạn rà soát và chuẩn bị. Quyền Chủ tịch UBND xã Tà Lài Nguyễn Phạm Tuyển cho biết: Địa phương đã tổ chức tuyên truyền, rà soát nhu cầu, lập hồ sơ, phối hợp khảo sát, lấy mẫu, tập huấn, chứng nhận và kiểm tra. Tuy nhiên, dù có hơn 5,1 ngàn hécta cây lâu năm, trong đó hơn 4,3 ngàn hécta cây ăn trái nhưng xã chưa có vùng sản xuất hoặc sản phẩm được xác nhận đạt chứng nhận hữu cơ.
Tại xã Nam Cát Tiên, Phó Chủ tịch UBND xã Nguyễn Hồng Nguyên cho hay: Địa phương có tiềm năng phát triển sản xuất hàng hóa, nhất là sầu riêng và các loại cây ăn trái. Một số hộ đã chủ động giảm sử dụng hóa chất, tăng phân hữu cơ, chế phẩm sinh học, tận dụng phụ phẩm trong nông nghiệp. Tuy nhiên, để chuyển đổi sang sản xuất NNHC vẫn còn không ít khó khăn bởi người dân vẫn giữ tập quán sản xuất truyền thống, thị trường tiêu thụ sản phẩm hữu cơ chưa ổn định, giá thấp nên người dân chưa mạnh dạn đầu tư.
Gỡ khó để phát triển nông nghiệp hữu cơ
Từ thực tế giám sát, các địa phương cho rằng để chính sách đi vào cuộc sống hiệu quả hơn, cần tháo gỡ từ khâu chuyển đổi đến chứng nhận và tiêu thụ sản phẩm.
Quyền Chủ tịch UBND xã Tà Lài Nguyễn Phạm Tuyển đề nghị: Cơ quan có thẩm quyền ban hành, hướng dẫn quy trình chuyển đổi và sản xuất hữu cơ cụ thể cho từng loại cây trồng phù hợp với từng nhóm đất và điều kiện nguồn nước. Cùng với đó là xây dựng bộ tiêu chí sàng lọc vùng sản xuất, chủ thể và hồ sơ mẫu thống nhất để cấp xã thuận lợi triển khai.
Đối với Nam Cát Tiên, Phó Chủ tịch UBND xã Nguyễn Hồng Nguyên đề nghị: Hỗ trợ xây dựng mô hình điểm sản xuất theo hướng hữu cơ gắn với cây trồng chủ lực, mã số vùng trồng, truy xuất nguồn gốc, sản phẩm OCOP (Chương trình Mỗi xã một sản phẩm) và liên kết tiêu thụ với doanh nghiệp. Đây được xem là hướng đi phù hợp để người dân có mô hình thực tế học tập, tạo sự liên kết giữa sản xuất và thị trường.
Trong khi đó, Phó Chủ tịch UBND xã Sông Ray Bùi Trung Đông cho rằng: Cần rút gọn quy trình, biểu mẫu xét duyệt hỗ trợ chi phí chứng nhận, cải tạo đất, mua phân bón hữu cơ; tăng nguồn ngân sách và lồng ghép các chương trình để kịp thời hỗ trợ nông hộ, hợp tác xã. Địa phương cũng đề xuất xây dựng vùng chuyên canh quy mô lớn gắn với mã số vùng trồng, kết nối trực tiếp với hệ thống phân phối hiện đại và tăng cường hướng dẫn kỹ thuật canh tác hữu cơ, quản lý dịch hại sinh học.
Thực tế từ các địa phương cho thấy, phát triển NNHC không chỉ cần chính sách hỗ trợ về kinh phí mà còn đòi hỏi quy trình kỹ thuật rõ ràng, vùng sản xuất phù hợp, sự đồng hành của cán bộ chuyên môn và nhất là thị trường tiêu thụ ổn định.
Theo lãnh đạo xã Tà Lài, tập quán canh tác sử dụng phân bón, thuốc bảo vệ thực vật hóa học kéo dài, sản xuất còn phân tán, các vùng canh tác hóa học xen kẽ khiến việc kiểm soát nguồn ô nhiễm khó khăn. Trong khi đó, chi phí khảo sát, chứng nhận và xây dựng hệ thống quản lý còn cao; đầu ra sản phẩm chưa ổn định, chưa có doanh nghiệp cam kết thu mua với mức giá đủ bù chi phí chuyển đổi.
