Giữ xanh rừng đầu nguồn - Cộng đồng bảo vệ môi trường
Từ việc cụ thể hóa các quy định của pháp luật thành những điều khoản gần gũi trong hương ước, quy ước thôn bản, người dân vùng cao đã thực sự trở thành 'lá chắn' vững chắc cho những cánh rừng đầu nguồn.
Tại các địa phương như Púng Luông, Lao Chải, rừng không chỉ là lá phổi xanh mà còn là nguồn sinh kế, là tài sản chung gắn liền với an ninh môi trường và sự phát triển bền vững của cộng đồng.

Rừng thông cổ thụ hàng chục năm tuổi tại xã Púng Luông.
Khi hương ước là "thượng tôn pháp luật" tại bản làng
Tại xã Púng Luông, câu chuyện bảo vệ rừng không dừng lại ở những văn bản hành chính khô khan. Toàn xã hiện có gần 19.000 ha rừng được giao cho người dân tại 25 thôn, bản quản lý, trong đó, hơn 11.000 ha rừng được chi trả dịch vụ môi trường rừng với số tiền khoảng 10 tỷ đồng mỗi năm. Đây là nguồn lực quan trọng để bà con có động lực gắn bó với rừng, nhưng sức mạnh thực sự nằm ở sự đồng thuận của lòng dân.
Ông Phạm Tiến Lâm - Chủ tịch UBND xã Púng Luông cho biết: “Trên cơ sở hương ước của từng thôn, bản, chúng tôi cùng họp, thống nhất thành quy ước chung cho tất cả thôn, bản trên địa bàn xã; nhờ đó thuận lợi trong công tác quản lý, bảo vệ rừng cũng như xử lý vi phạm”.
Sự chuyển biến rõ nét nhất có thể thấy tại thôn Nà Háng Tâu. Với hơn 374 ha rừng nhận khoán (chủ yếu là rừng thông), Trưởng thôn Thào A Khày đã thiết lập một hệ thống quản lý chặt chẽ. Hàng năm, thôn ký hợp đồng cụ thể giữa chủ rừng và đại diện cộng đồng.

Ban quản lý rừng Mù Cang Chải thường xuyên phối hợp với các thôn tuần tra, bảo vệ rừng.
Ông Khày chia sẻ, để làm tốt công tác bảo vệ rừng, thôn lập sổ phân công nhiệm vụ cho từng hộ dân. Mỗi ngày, một hộ có trách nhiệm tuần tra, canh gác quanh khu vực rừng nhận khoán.
“Hộ đi trực có trách nhiệm phát hiện các hành vi xâm phạm như cháy rừng, lấn chiếm đất rừng hay chặt cây để báo cáo kịp thời cho lực lượng chức năng xử lý. Nếu hộ nào không chấp hành việc tuần tra theo phân công, chúng tôi sẽ trừ vào số tiền dịch vụ môi trường rừng của hộ đó để đảm bảo tính công bằng”, ông Khày khẳng định.
Dựa vào dân để giữ rừng trong mùa cao điểm
Trong công tác bảo vệ rừng, xã Lao Chải phải đối mặt với thử thách lớn về địa hình. Với hơn 9.000 ha rừng, trong đó rừng tự nhiên chiếm đa số, tỷ lệ che phủ đạt tới 54,9%. Tuy nhiên, vào thời điểm thời tiết khô hanh kéo dài đã đưa dự báo cháy rừng tại đây lên cấp IV - cấp nguy hiểm. Trong bối cảnh lực lượng kiểm lâm mỏng, địa hình chia cắt mạnh, chính quyền xã đã chọn cách "dựa vào dân" làm trọng tâm.

Công tác tuần rừng được duy trì thường xuyên.
Bà Đào Thị Thu Thủy - Bí thư Đảng ủy xã Lao Chải cho rằng, thành công lớn nhất không phải là những con số báo cáo mà là việc 1.766 hộ dân tại 14/14 thôn đã ký cam kết bảo vệ rừng. Xã đã chủ động huy động nguồn lực xã hội hóa để trang bị dụng cụ chữa cháy tại chỗ như dao phát, cuốc, xẻng cho các tổ tự quản.
Theo bà Thủy, kết quả khả quan thời gian qua là nhờ sự vào cuộc đồng bộ của cả hệ thống chính trị và sự đồng thuận của Nhân dân. Người dân đã thực sự xem rừng là tài sản chung, là "nồi cơm" sát sườn chứ không phải việc riêng của cán bộ lâm nghiệp. Tại đây, các mô hình kinh tế dưới tán rừng như thảo quả (139 ha) và sơn tra (hơn 800 ha) phát triển bền vững đã minh chứng cho việc bảo vệ rừng gắn liền với lợi ích kinh tế thực tế.
Vai trò then chốt của các chi bộ
Trong hệ thống bảo vệ rừng tại cơ sở, vai trò chỉ đạo của các chi bộ thôn, bản đóng vai trò then chốt. Tại Nà Háng Tâu, ông Lý Chùng Tu - Bí thư Chi bộ thôn cho biết, công tác tuyên truyền được lồng ghép thường xuyên trong các buổi sinh hoạt chi bộ hàng tháng.
Đặc biệt, trong mùa canh tác, chi bộ chỉ đạo các đoàn thể hướng dẫn bà con cách đốt nương đúng quy trình, tuyệt đối không để cháy lan vào diện tích rừng phòng hộ.
"Vào mùa khô, chúng tôi tăng cường lên 3 hộ trực mỗi ngày, thời gian 24/24 giờ và có sổ giao ca nghiêm túc. 6 giờ sáng hôm sau mới bàn giao sổ cho nhóm tiếp theo", ông Tu thông tin.
Điểm đáng chú ý trong cách quản lý tại đây là sự kết hợp giữa quy định của pháp luật về lâm nghiệp và uy tín của những người có tiếng nói trong cộng đồng. Hàng năm, thôn đều tổ chức họp các già làng, trưởng dòng họ để lấy ý kiến đóng góp vào hương ước. Sau khi thống nhất, nội dung này được tuyên truyền rộng rãi đến từng hộ gia đình. Chính sự ràng buộc mang tính dòng họ và cộng đồng này đã tạo nên áp lực tích cực, khiến mọi công dân đều tự giác chấp hành.

Ban quản lý rừng Mù Cang Chải đang quản lý trên 60 nghìn ha rừng.
Sinh kế bền vững và an ninh môi trường
Ở góc độ quản lý chuyên môn, ông Nguyễn Hồng Sơn - Phó Giám đốc Ban Quản lý rừng phòng hộ Mù Cang Chải đánh giá cao ý thức của cộng đồng khi được nhận khoán.
Hiện, đơn vị quản lý trên 60.000 ha rừng, giao khoán cho 105 cộng đồng thôn bản với hơn 13.000 hộ dân tham gia. Riêng diện tích rừng thông cổ thụ hơn 5.000 ha tại Púng Luông là minh chứng cho sự gìn giữ qua nhiều thế hệ.
Việc chi trả dịch vụ môi trường rừng không chỉ giúp người dân nâng cao thu nhập mà còn tạo điều kiện cho họ tận thu các sản phẩm phụ như củi khô, cây gãy đổ để phục vụ sinh hoạt, làm đồ gia dụng theo quy định.
Như tại thôn Nà Háng Tâu, nguồn thu 221 triệu đồng mỗi năm từ dịch vụ môi trường rừng được chia đều cho 84 hộ dân, tạo ra nguồn tài chính ổn định vào dịp cuối năm.
Ông Thào A Sang – Trạm phó Trạm Quản lý bảo vệ rừng khu 2 (Ban Quản lý rừng phòng hộ Mù Cang Chải) cho biết, sự phối hợp nhịp nhàng giữa lực lượng chuyên trách và các tổ bảo vệ rừng thôn bản đã đảm bảo diện tích rừng hơn 10.000 ha do trạm quản lý không xảy ra những vụ việc xâm hại nghiêm trọng.
Có thể khẳng định, việc giữ xanh những cánh rừng đầu nguồn không chỉ là nhiệm vụ cấp bách để ứng phó với biến đổi khí hậu mà còn là chiến lược an ninh môi trường lâu dài. Khi người dân thực sự làm chủ cánh rừng, hiểu rõ giá trị của hệ sinh thái đối với sinh kế và đời sống, thì mỗi người dân sẽ là một "cột mốc" sống bảo vệ biên cương xanh của Tổ quốc.































