Giữ nghề xưa nơi làng chài
HNN - Sáng sớm, trong căn nhà ba gian lộng gió biển ở thôn Phương Lộc (xã Phú Vinh), giữa những chiếc bầu đan bằng tre, những mô hình ghe, thuyền nan nằm ken dày, ông Trần Văn Thân, tuổi đã 73 đang thoăn thoắt đôi tay cùng những sợi lạt. Hàng chục năm gắn bó với biển khơi, dù sức khỏe không cho phép giữ nghề biển, tình cảm của ông dành cho vùng biển quê hương vẫn được gửi gắm trọn vẹn vào từng sản phẩm.

Ông Thân tỉ mỉ quét sơn cho những chiếc ghe mô hình.
Chiếc bầu theo người ra biển
Gần cả cuộc đời lênh đênh trên sóng nước, đối với ông Thân, vùng biển khơi chẳng khác nào ngôi nhà thứ hai, là nơi ông cùng bạn chài quanh năm lặn lội mưu sinh. Từ khi còn là một chàng trai miền biển, ông Thân đã gắn bó với những chiếc thuyền, ngư cụ và đặc biệt là chiếc bầu riêng có của ngư dân làng chài Phương Lộc.
Ông Thân kể: “Chiếc bầu ni là sản phẩm do cha ông truyền lại. Dù chỉ làm bằng tre thôi nhưng nhờ kỹ thuật đan và cách chống thấm riêng có của ngư dân mà chiếc bầu trở thành vật dụng không thể thiếu cho mỗi chuyến biển”.
Chiếc bầu được tạo nên với một hình dáng đặc biệt. Miệng bầu được đan thành hình tròn, sau đó thân bầu mở rộng rồi vuông dần xuống đáy, tạo nên một khoang chứa rộng, bằng phẳng và chắc chắn, là vật dụng để ngư dân đựng dây câu, quần áo, đồ ăn, thức uống cùng những vật dụng nhỏ cần thiết cho những chuyến đi biển. Hình dáng ấy cũng giúp chiếc bầu giữ được độ cân bằng, nổi trên mặt nước nếu chẳng may rơi xuống biển. Phía trên bầu là chiếc nắp đậy tròn vừa vặn, được gắn vào thân bầu bằng dây cước nhựa, giúp hạn chế nước và sóng tạt vào bên trong. Từ hình dáng đến cách sử dụng, chiếc bầu là kết quả của kinh nghiệm được ngư dân đúc kết qua nhiều thế hệ.
Ngày trước, những người biết đan bầu rất nhiều. Trong ngôi làng ven biển, kinh nghiệm đan bầu được trao truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác, ông bà truyền lại cho con cháu. Người lớn làm, con nít ngồi bên xem, tập tành làm dần rồi biết.
Sau này, trên ghe, nhiều ngư dân bắt đầu dùng thùng nhựa vì nhẹ, dễ mua, dễ vệ sinh, lại có đủ loại kích cỡ. Vì thế, nghề đan bầu đang đứng trước nguy cơ mai một, những chiếc bầu bằng tre không còn giữ vị trí độc tôn, người biết đan bầu trong làng cũng ngày càng ít đi. Đến nay, ở Phương Lộc, ông Thân là người duy nhất còn giữ nghề này. Theo ông Nguyễn Thi, một ngư dân có hơn 50 năm gắn bó với nghề biển, chừng nào vẫn còn những ngư dân hiểu được giá trị và sự tiện dụng của chiếc bầu, chừng đó vật dụng này vẫn còn chỗ đứng trong đời sống làng biển.

Biển hiện diện trong từng sản phẩm.
Nối dài tình yêu với biển khơi
Để làm một chiếc bầu, tre phải được chọn kỹ, ưu tiên những cây già, chắc rồi chẻ và chuốt thành từng chiếc lạt mảnh. Sau đó, ông Thân đan thân bầu, gia cố các góc và phần đáy, đồng thời xử lý chống thấm. Ông thường dùng dầu hắc, dầu rái hoặc dầu toa để giúp chiếc bầu chịu được nước và môi trường biển.
“Tre mà làm kỹ, chống nước kỹ thì bền lắm. Có cái dùng 20 - 30 năm vẫn còn bền, chắc. Hư chỗ mô thì gia cố, xử lý lại lớp chống thấm là dùng tiếp được”, ông Thân nói. Mỗi chiếc bầu dù kích thước lớn hay nhỏ đều phải mất từ 3 - 4 ngày để hoàn thiện.
Hiện nay, mỗi chiếc bầu đan hoàn chỉnh, tùy kích thước và độ cầu kỳ có giá dao động từ 500 nghìn đồng đến 1 triệu đồng/chiếc. Những chiếc ghe mô hình lớn có giá từ 1 đến 3 triệu đồng. Mỗi năm, ông làm hàng chục sản phẩm. Dù không nhiều, công việc này vừa giúp ông có thêm nguồn thu nhập, vừa là cách giữ lại những giá trị gắn với đời sống làng chài.
“Cha ông truyền lại thì mình làm tiếp. Mai mốt con cháu có thích thì làm, không thích thì thôi. Nhưng ít nhất mình còn làm được ngày mô thì cứ giữ nghề ngày đó”, ông Thân nói.
Có lẽ, ở làng chài, ông Thân vẫn chỉ nhận mình là người “thợ đụng”, ai đặt chi thì làm nấy. Nhưng từ đôi tay đã quen với sóng nước, tre lạt và những chuyến biển, ông đang lặng lẽ tiếp nối nghề truyền thống đã gắn bó với bao thế hệ ngư dân, gìn giữ những kinh nghiệm được cha ông truyền qua năm tháng.
