Giữ nghề vẽ tranh gương

HNN - Ở phố cổ Bao Vinh, bà Trần Thị Minh Phụng vẫn ngày ngày tỉ mẩn cầm cọ vẽ tranh kính như cách gia đình bà đã làm suốt nhiều thế hệ. Khi lớp thợ xưa gần như không còn, đôi tay của người phụ nữ ngoài 50 tuổi trở thành nơi lưu giữ một nghề từng gắn với mỹ thuật cung đình Huế.

 Bà Trần Thị Minh Phụng đang vẽ tranh gương, thao tác trực tiếp trên mặt sau tấm kính theo lối “vẽ ngược”

Bà Trần Thị Minh Phụng đang vẽ tranh gương, thao tác trực tiếp trên mặt sau tấm kính theo lối “vẽ ngược”

Giữ nghề “vẽ ngược”

Trong lịch sử mỹ thuật Huế, tranh gương được xem là một loại hình đặc biệt bởi kỹ thuật sáng tác khác hẳn các dòng tranh truyền thống. Tranh gương được vẽ hoặc khảm trực tiếp lên mặt sau của kính. Khi hoàn thiện, người thợ lật tranh lại, hình ảnh hiện ra ở mặt trước. Lớp màu vì nằm phía trong nên ít chịu tác động của độ ẩm và thời tiết. Cũng chính vì đặc điểm này mà toàn bộ quá trình sáng tác diễn ra trong trạng thái “vẽ ngược”.

Theo các tư liệu còn lại, nghề tranh gương ở Huế gắn với lớp thợ gốc Hoa sinh sống tại Bao Vinh, phố Chi Lăng. Họ mang theo kỹ thuật từ Trung Quốc, rồi điều chỉnh đề tài, bố cục, chữ viết cho phù hợp với thẩm mỹ cung đình Triều Nguyễn. Tranh gương vì thế vừa mang yếu tố giao thoa, vừa có diện mạo riêng của đất Huế.

Gia đình bà Trần Thị Minh Phụng theo nghề tranh gương đã ba thế hệ. Ông nội bà là người gốc Hoa mang nghề sang Huế từ đầu thế kỷ trước. Ông cũng chính là người từng kỳ công chế màu từ cỏ cây, hoa lá để vẽ tranh gương cho Đại Nội và lăng Tự Đức. Đến đời cha của bà, tranh gương vẫn còn được đặt vẽ đều. Bà Phụng lớn lên trong không gian làm nghề, quen với kính, mực từ nhỏ. “Ngồi bên cha nhìn riết rồi quen tay. Khi cha mất, tôi lại tiếp tục vẽ. Nếu tôi không theo nghề thì có lẽ nghề này không còn ai lưu giữ”, bà Phụng nói.

Theo bà Phụng, vẽ tranh gương là “vẽ mặt trái, nhìn mặt phải”. Đây chính là rào cản lớn nhất khiến nghề khó truyền. “Mình phải vẽ ngược thứ tự hoàn toàn. Nét nào người xem thấy trước thì mình phải vẽ sau. Sai một chi tiết nhỏ là không sửa được”, bà Phụng chia sẻ.

Bề mặt kính trơn, mực bám trực tiếp, không có độ thấm như giấy hay lụa. Người vẽ không thể ước lượng chính xác lực tay đang mạnh hay nhẹ. Chỉ cần chấm mực chậm hoặc run tay, nét vẽ sẽ loang ra, làm hỏng bố cục chung. Vì vậy, tranh gương gần như không có khái niệm vẽ thử.

Ngoài kỹ thuật vẽ, công đoạn cẩn xà cừ cũng đòi hỏi nhiều kinh nghiệm. Trai, ốc dùng để cẩn không thể sử dụng ngay mà phải nung để lên màu. Trước đây, thợ tranh gương Huế nung bằng lò trấu, dùng tro trấu để giữ nhiệt đều. Khi trấu không còn phổ biến, bà Phụng chuyển sang nung bằng than củi, tự điều chỉnh nhiệt độ qua từng mẻ. Nung không đều là hỏng. Lửa già thì cháy xà cừ, non thì màu không lên. Làm nhiều mới quen tay.

 Một tác phẩm tranh gương Huế, đề tài hoa điểu quen thuộc trong mỹ thuật truyền thống

Một tác phẩm tranh gương Huế, đề tài hoa điểu quen thuộc trong mỹ thuật truyền thống

Theo dấu vàng son

Về đề tài, tranh gương Huế từng phục vụ chủ yếu cho không gian cung đình. Nội dung phổ biến là tranh phong cảnh, hoa, điểu, tứ quý, các tích truyện quen thuộc trong Nho giáo. Trong đó, tranh “Nhị thập tứ hiếu” là đề tài được đặt vẽ nhiều, mỗi tích có bố cục riêng, đòi hỏi người vẽ phải thuộc chuyện và hiểu nhân vật.

Theo bà Phụng, khó nhất vẫn là vẽ khuôn mặt người. Khi vẽ ngược, người thợ phải hình dung gương mặt hoàn chỉnh trong đầu, từ ánh mắt đến sống mũi, miệng, cằm. “Chỉ cần lệch một chút là khi lật lại thấy ngay, không có cách nào giấu được”, bà nói.

Tranh gương không có kích thước cố định. Mỗi bức tranh được đo theo vị trí treo cụ thể. Loại phổ biến là tranh ngang, dài khoảng 58 - 60cm, cao hơn 20cm. Ngoài ra còn có những bức khổ lớn, dài trên một mét, dùng trong nhà cổ hoặc không gian rộng.

Trong số các tác phẩm từng thực hiện, bà Phụng nhắc đến một bức tranh khổ lớn, gần vuông, treo ở chiếu nghỉ cầu thang của một ngôi nhà cổ tại Hội An. Ngoài ra, bà vẫn giữ lại một số tranh do chính tay mình vẽ, trong đó có bức tranh đại bàng khổ lớn và các bộ tranh Bát Tiên. Khoảng giữa thập niên 90, tranh gương từng có giai đoạn được thị trường quan tâm trở lại. “Thời đó tôi có vẽ tranh đề tài Thúy Kiều cho một nhà sưu tầm mang sang Pháp. Tranh lúc đó được mua bán bằng USD”, bà Phụng kể.

Hiện nay, bà vẫn nhận được đơn đặt hàng, chủ yếu từ các nhà nghiên cứu và người sưu tầm trong và ngoài nước. Giá một bộ tranh cỡ trung bình dao động khoảng 7 đến 10 triệu đồng. Tuy nhiên, do không còn thường xuyên ở Huế, mỗi năm bà chỉ về vài lần, nên số lượng tranh hoàn thiện không nhiều…

Theo TS. Phan Thanh Hải, Giám đốc Sở Văn hóa và Thể thao TP. Huế, tranh gương cung đình Huế là một dòng mỹ thuật đặc thù, hình thành và phát triển trong không gian kiến trúc Triều Nguyễn, với kỹ thuật thể hiện khác biệt so với nhiều loại hình hội họa truyền thống. Tuy vậy, việc nghiên cứu và giới thiệu tranh gương hiện nay vẫn chưa tương xứng với giá trị của loại hình này.

Ông Hải cho rằng, cần tổ chức lại việc trưng bày tranh gương trong các di tích theo những chủ đề rõ ràng, thay vì để phân tán như hiện nay. Đồng thời, xây dựng các không gian giới thiệu chuyên đề trong những dịp lễ hội nhằm giúp công chúng hiểu rõ hơn về tranh gương Huế. Về lâu dài, việc khảo cứu kỹ thuật chế tác và phục chế tranh gương, kết hợp kinh nghiệm từ các dòng tranh gương dân gian trong nước và khu vực Hoa Nam (Trung Quốc), được xem là hướng tiếp cận cần thiết cho công tác bảo tồn.

Hải Băng - Ảnh : NVCC

Nguồn Thừa Thiên Huế: https://huengaynay.vn/van-hoa-nghe-thuat/giu-nghe-ve-tranh-guong-163182.html