Giữ lửa ở làng dũa Đại Phu
Từng được mệnh danh là làng nghề “mài sắt thành vàng”, làng dũa Đại Phu (ở thôn Mạnh Tiến, xã Bình Sơn, tỉnh Ninh Bình) từng có thời kỳ phát triển hưng thịnh, sản phẩm được xuất khẩu ra nhiều nước trên thế giới. Tuy nhiên, trước sự thay đổi của nhu cầu sử dụng, sức ép của sản phẩm công nghiệp và những khó khăn về đầu ra, làng nghề truyền thống nay chỉ còn rất ít hộ giữ nghề.

Bà Dương Thị Thanh là một trong những người phụ nữ hiếm hoi còn làm dũa ở làng nghề dũa Đại Phu. Ảnh: Đình Minh.
Tiếng búa thưa dần
Những ngày này, tiếng búa ở Đại Phu không còn rộn ràng như thời làng nghề còn hưng thịnh. Những lò bễ từng đỏ lửa ở hàng trăm gia đình nay đã thưa dần. Trong thôn Mạnh Tiến, chỉ còn khoảng 12 hộ vẫn duy trì nghề làm dũa thủ công.
Gần 40 năm gắn bó với nghề, ông Vũ Văn Hợp (58 tuổi, trú thôn Mạnh Tiến) cho biết, dũa Đại Phu đến nay vẫn được chế tác gần như hoàn toàn bằng phương pháp thủ công truyền thống. Để làm ra một sản phẩm phải trải qua nhiều công đoạn, từ tạo phôi, tạo mặt phẳng, tạo răng, tôi luyện đến kiểm hóa và đóng gói. Trong đó, tạo răng và tôi luyện là những khâu quyết định chất lượng.
Theo ông Hợp, mỗi ngày ông có thể xử lý khoảng 500 chiếc dũa, với thù lao khoảng 500 đồng/chiếc, thu nhập trung bình khoảng 250.000 đồng/ngày. Công việc vất vả, nhưng ông vẫn bám nghề, một phần bởi hoàn cảnh gia đình, phần còn lại vì mong muốn giữ lại nghề truyền thống. “Ở làng nghề hiện chỉ còn những lao động tuổi trung niên là còn theo nghề. Tôi vừa phải ở nhà chăm bố ốm, vừa mong muốn giữ nghề cha ông nên vẫn cố gắng bám trụ” - ông Hợp chia sẻ.
Điều làm nên giá trị của dũa Đại Phu nằm ở chính đôi tay người thợ. Với những sản phẩm yêu cầu kỹ thuật cao, răng dũa phải được băm thủ công. Ngoài ra, người thợ còn dựa vào kinh nghiệm để tôi luyện thép, quan sát sự chuyển màu của vật liệu để điều chỉnh nhiệt độ và thời gian. Nếu tôi chưa đủ, dũa nhanh mòn; nếu quá già, sản phẩm dễ giòn, gãy. Từ kỹ thuật ấy, hàng trăm chủng loại dũa với nhiều hình dáng, kích cỡ từ 1 - 350 mm được sản xuất, phục vụ các ngành cơ khí, mộc, sửa chữa, chế tác mỹ nghệ, kim hoàn.
Nhưng nghề càng đòi hỏi kỹ thuật, công sức thì càng khó cạnh tranh khi thị trường thay đổi. Bà Dương Thị Thanh - một trong số ít hộ còn gắn bó với nghề, cho biết: Công việc nặng nhọc nhưng thu nhập không cao, trong khi lớp trẻ ngày càng ít người muốn theo nghề. “Chúng tôi theo cha ông làm nghề từ nhỏ, giờ tuổi cao rồi cũng không có công việc khác nên cứ bám lấy cái nghề dũa này. Trong gia đình, đời tôi là thế hệ cuối cùng còn gắn bó với nghề” - bà Thanh trăn trở.
Loay hoay bài toán giữ nghề
Nghề dũa Đại Phu được hình thành từ những năm 1940, gắn với người thợ mộc Vũ Khánh. Sau khi tiếp thu ý tưởng về chiếc dũa từ những người thợ Nhật Bản, cụ Khánh nghiên cứu, chế tạo sản phẩm từ những thanh sắt bỏ đi rồi truyền nghề cho con cháu và người dân trong làng. Từ những chiếc dũa 3 cạnh ban đầu, người thợ Đại Phu từng bước cải tiến kỹ thuật, tạo ra nhiều chủng loại sản phẩm.
Đến năm 1957, nghề bước vào giai đoạn phát triển hưng thịnh. Theo ông Dương Quốc Tịch - Bí thư Chi bộ thôn Mạnh Tiến, đồng thời là thế hệ thứ 3 trong gia đình làm nghề, có thời điểm có tới 90% hộ dân trong làng tham gia sản xuất. Nhà nào cũng có từ 2 đến 3 lò, người lớn, thanh niên đều làm dũa; hàng sản xuất ra đến đâu tiêu thụ hết đến đó.
Dũa Đại Phu từng vươn ra thị trường quốc tế. Đặc biệt, vào đầu những năm 1980, các hợp tác xã với hàng trăm lao động liên tục nhận đơn hàng xuất khẩu sang Ba Lan, Tiệp Khắc, Liên Xô và một số thị trường khác. Sản phẩm còn liên tiếp giành Huy chương Vàng tại Hội chợ Hàng tiểu thủ công nghiệp các năm 1980, 1981 và 1982. Được công nhận là làng nghề truyền thống năm 2004, có thời điểm sản lượng dũa Đại Phu đạt hơn 11 triệu sản phẩm mỗi năm. Thế nhưng, khoảng 10 năm trở lại đây, thị trường ngày càng thu hẹp.
Theo những người làm nghề, nguyên nhân trước hết đến từ sự thay đổi của công cụ sản xuất. Nếu trước đây dũa là vật dụng quen thuộc của thợ mộc, thợ cơ khí và nhiều ngành nghề thủ công thì nay, máy mài và các thiết bị chuyên dụng đã thay thế một phần lớn công việc vốn sử dụng dũa. Đầu ra khó khăn trong khi chi phí sản xuất tăng cũng khiến nghề kém hấp dẫn. Thép, than, điện và các loại nguyên liệu đầu vào đều làm tăng chi phí, trong khi phần lớn sản phẩm vẫn phải tiêu thụ thông qua các đầu mối thu mua nên người sản xuất khó chủ động về giá.
Bên cạnh đó, nghề làm dũa đòi hỏi nhiều công đoạn thủ công, môi trường làm việc có nhiệt độ cao, bụi thép và tiếng ồn. Thu nhập không còn đủ sức cạnh tranh với việc làm tại các doanh nghiệp, khu công nghiệp khiến lao động trẻ không mặn mà. Bài toán của Đại Phu vì thế không chỉ là tìm đầu ra cho sản phẩm mà còn là làm sao để nghề có thể truyền lại cho thế hệ sau.
Trao đổi với phóng viên Báo Đại đoàn kết, bà Ngô Thị Thanh Thảo - Chủ tịch Hội Nông dân xã Bình Sơn cho biết, nghề dũa Đại Phu là nghề truyền thống có giá trị, gắn với lịch sử phát triển của địa phương và từng tạo việc làm, thu nhập cho nhiều thế hệ. Tuy nhiên, hiện nay, làng nghề đang dần mai một khi đầu ra sản phẩm ngày càng khó khăn, thu nhập thấp, trong khi phần lớn lao động trẻ lựa chọn làm việc tại các doanh nghiệp, khu công nghiệp thay vì tiếp nối nghề truyền thống.
Trước thực tế đó, địa phương đang tìm giải pháp hỗ trợ đầu ra cho một số cơ sở, giúp các hộ còn gắn bó có điều kiện duy trì sản xuất. “Về lâu dài, cần có sự quan tâm, hỗ trợ nhiều hơn của cấp tỉnh trong kết nối thị trường, xây dựng thương hiệu và tạo điều kiện để nghề truyền thống có cơ hội được duy trì, phát triển” - bà Thảo nói.

