'Giành lại' tuổi xuân cho những đứa trẻ (bài 2)

Bài 2: Những đứa trẻ thiếu tên cha

Bài 1: Lời ru buồn trên non cao

ĐBP - Tảo hôn không chỉ để lại hệ lụy nặng nề cho cha mẹ, mà còn đẩy những đứa trẻ vào những thiệt thòi ngay từ đầu đời. Có em lớn lên trong hoàn cảnh thiếu thốn, có em không được mang họ cha, để trống thông tin cha trên giấy khai sinh; thậm chí có em chưa kịp chào đời đã mất cơ hội cất tiếng khóc đầu tiên. Những “khoảng trống” ấy cho thấy hệ lụy của tảo hôn không dừng lại ở một cuộc hôn nhân, mà còn kéo dài đến thế hệ sau, tác động đến chất lượng dân số, công tác giảm nghèo và sự phát triển của xã hội.

Hệ lụy của cuộc hôn nhân sớm khiến con của em Ly Thị X. (người bế cháu nhỏ) phải mang họ của người chú.

Hệ lụy của cuộc hôn nhân sớm khiến con của em Ly Thị X. (người bế cháu nhỏ) phải mang họ của người chú.

Đám cưới “chui”

Theo quan niệm dân gian, “tậu trâu, cưới vợ, làm nhà” là ba việc lớn của đời người. Thế nhưng, ở không ít bản vùng cao Điện Biên, hôn nhân vẫn đến quá sớm, khi những cô dâu, chú rể còn đang tuổi đến trường, chưa đủ tuổi đăng ký kết hôn. Những đám cưới “chui” vì thế âm thầm diễn ra, để rồi kéo theo những hệ lụy không chỉ cho người trong cuộc mà cả thế hệ sau.

Một chiều đầu tháng 8/2026, ở bản Cồ Dề, xã Xa Dung, Lầu A P. dân tộc Mông (sinh năm 2011) ngồi lặng bên hiên nhà, kể lại câu chuyện của cuộc đời mình. Đầu năm 2026, P. nên duyên với Vàng Thị P. Khi ấy, cả hai mới 14 tuổi, là học sinh của Trường THCS Phì Nhừ. Từ ghế nhà trường, đôi trẻ bước vào cuộc sống gia đình khi tuổi đời còn quá nhỏ. Không có thiệp cưới, không có đám cưới linh đình, cũng không có mâm cỗ đông vui, mọi việc diễn ra trong lặng lẽ, bởi gia đình hiểu rằng các em chưa đủ tuổi kết hôn theo quy định của pháp luật.

Trao đổi với chúng tôi, P. thừa nhận em vẫn thấy chạnh lòng khi nghĩ đến một đám cưới đúng nghĩa. “Em cũng muốn có đám cưới như mọi người, có họ hàng, bạn bè đến chung vui và được pháp luật công nhận. Nhưng lúc đó bọn em chưa đủ tuổi nên gia đình không tổ chức được”, P. nói. Với cậu bé mới 14 tuổi, điều khiến em tiếc nuối không chỉ là một ngày vui bị bỏ lỡ, mà còn là cuộc sống gia đình đã bắt đầu quá sớm khi cả hai vẫn còn quá trẻ.

Ông Lầu A Vừ - bố của em Lầu A P. chia sẻ: “Vì các con chưa đủ tuổi nên không thể đăng ký kết hôn. Gia đình cũng không tổ chức đám cưới mà chỉ làm lý theo phong tục dân tộc để đưa các cháu về sống cùng”. Một cuộc hôn nhân không giấy đăng ký, không được pháp luật công nhận đã bắt đầu như thế.

Ở bản Tìa Ló, xã Pu Nhi, em Vừ A Ch. và Ly Thị Kh. cũng bắt đầu cuộc sống vợ chồng từ một cuộc hôn nhân “chui” như vậy. Năm 2018, khi ấy Ch. mới 17 tuổi, còn Kh. tuổi 15. Do chưa đủ tuổi kết hôn, đám cưới của đôi trẻ không thể tổ chức như những gia đình khác. Không có giấy đăng ký kết hôn, không có những nghi lễ đầy đủ, không có niềm vui trọn vẹn của ngày thành hôn. Hai bên gia đình chỉ làm lý theo phong tục để đôi trẻ về sống cùng nhau.

Nhiều năm đã trôi qua, vợ chồng Ch. giờ đã có 3 con, con lớn 7 tuổi. Thế nhưng, khi nhắc lại chuyện cưới xin, cả hai vẫn không khỏi tiếc nuối. Bởi với người dân tộc Mông, đám cưới không chỉ là ngày vui của đôi lứa mà còn là dịp để họ hàng, làng bản chứng kiến và chúc phúc. Việc không thể tổ chức một đám cưới đúng nghĩa khiến niềm vui ngày nên duyên của nhiều cặp vợ chồng tảo hôn trở nên thiếu vẹn tròn.

Những câu chuyện như trên ở các bản vùng cao không phải cá biệt. Nguyên nhân do tâm lý e ngại bị phát hiện, xử lý khiến những cuộc hôn nhân này thường diễn ra âm thầm, kín đáo, thiếu đi tiếng khèn, tiếng hát và sự chứng kiến, chúc phúc của họ hàng, cộng đồng. Một đám cưới “chui” chỉ diễn ra trong chốc lát, nhưng những hệ lụy từ quyết định ấy có thể kéo dài nhiều năm, cả đời người, thậm chí sang cả thế hệ sau.

Theo ông Cứ A Sếnh, Phó phòng Văn hóa - Xã hội, xã Pu Nhi, do phong tục, tập quán và nhận thức pháp luật của một bộ phận người dân còn hạn chế, không ít trường hợp vẫn tổ chức đám cưới âm thầm, kín đáo. “Có trường hợp gia đình biết con em chưa đủ tuổi nhưng vẫn cho về ở với nhau. Vì sợ bị phát hiện, xử lý nên không tổ chức đám cưới, không báo với chính quyền”, ông Sếnh cho biết.

Điều này khiến việc ngăn chặn tảo hôn gặp không ít khó khăn. Những đám cưới “chui” có thể né tránh được sự chứng kiến của cộng đồng và sự quản lý của chính quyền, nhưng không thể tránh được những hệ lụy mà tảo hôn để lại. Khi một cuộc hôn nhân bắt đầu trong âm thầm, những thiệt thòi về học tập, pháp lý và tương lai của những người trong cuộc lại có thể kéo dài suốt nhiều năm.

“Khoảng trống” theo con lớn lên

Tảo hôn không chỉ lấy đi cơ hội học tập, việc làm và tương lai của các em, mà còn để lại nhiều thiệt thòi cho thế hệ sau. Do kết hôn và mang thai khi tuổi đời còn quá trẻ, sức khỏe, kiến thức và điều kiện kinh tế chưa bảo đảm, có trường hợp chưa kịp sinh con đã phải đối mặt với mất mát. Với những đứa trẻ được sinh ra, cũng chịu thiệt thòi đủ đường.

Câu chuyện của em Giàng A L. (sinh năm 2007) và Thào Thị S. (sinh năm 2012), thôn 3, xã Sính Phình cho thấy những hệ lụy đau lòng của tảo hôn. Đầu năm 2026, sau khi biết S. mang thai, hai em về sống chung. Khi ấy, S. mới 14 tuổi, cơ thể chưa phát triển đầy đủ, kiến thức và điều kiện chăm sóc thai kỳ còn hạn chế. Thai kỳ diễn biến không thuận lợi, sức khỏe của S. yếu. Cuối cùng, đứa trẻ chưa kịp cất tiếng khóc chào đời đã mất. Với L. và S. đó không chỉ là mất mát lớn, mà còn là một cảnh báo đau lòng do tảo hôn mang lại.

Đây cũng là nguyên nhân làm gia tăng tỷ lệ tử vong ở trẻ em dưới 1 tuổi và dưới 5 tuổi trên địa bàn tỉnh. Thống kê của Sở Y tế cho thấy, năm 2025, tỷ suất tử vong trẻ sơ sinh trên địa bàn tỉnh chiếm 5,0%o, tức khoảng 5 trẻ tử vong trên mỗi 1.000 trẻ sinh ra sống; tỷ suất tử vong trẻ dưới 1 tuổi 14,9%o, tức là cứ 1.000 trẻ sinh ra sống thì có khoảng 14,9 trẻ tử vong trước khi tròn 1 tuổi; tỷ suất tử vong trẻ dưới 5 tuổi 20,0%o. 5 tháng đầu năm 2026, tỷ suất tử vong trẻ em dưới 5 tuổi là 19,0%o.

Nếu trường hợp của S. là mất mát chưa kịp đón con chào đời, thì với Vừ Thị B. bản Tìa Ló, xã Pu Nhi, những lo lắng lại hiện hữu trong hành trình nuôi con. Kết hôn năm 15 tuổi, hiện B. là mẹ của hai đứa trẻ. Con trai đầu của em nay đã hơn 3 tuổi nhưng vẫn chưa biết nói dù gia đình đã đưa đi thăm khám nhiều nơi. Mỗi ngày nhìn con lớn lên mà chưa thể nói như những đứa trẻ cùng tuổi, nỗi lo lại thêm chồng chất trong lòng người mẹ trẻ.

“Em chỉ mong con sớm biết nói như những đứa trẻ khác. Nhưng càng ngày em càng lo mà chưa biết phải làm thế nào”, B. chia sẻ. Những mất mát về sức khỏe và sự phát triển ấy mới chỉ là một phần hệ lụy. Với những cuộc hôn nhân không được pháp luật công nhận, thiệt thòi của trẻ còn hiện hữu ngay trên những giấy tờ đầu đời.

Từng là học sinh lớp 10, Trường THCS Keo Lôm, năm 2025 (khi mới 15 tuổi), Lầu Thị Ch. bản Chóp Ly, xã Na Son đã lấy chồng. Hôn nhân sớm kéo theo những khoảng trống pháp lý. Do vợ chồng Ch. đều chưa đủ tuổi đăng ký kết hôn, người chồng không làm thủ tục xác nhận quan hệ cha, con nên khi khai sinh, đứa trẻ phải mang họ mẹ và để trống thông tin người cha. Một khoảng trống trên giấy tờ, nhưng phía sau là những thiệt thòi mà đứa trẻ phải gánh chịu ngay từ khi chào đời.

Cũng như Ch., Ly Thị X. (sinh năm 2010), bản Phù Lồng, xã Pu Nhi, bước vào cuộc sống hôn nhân mới 16 tuổi. Khi con chào đời, gia đình đã nhờ một người chú họ bên nhà chồng đứng ra làm thủ tục khai sinh. Vì vậy, đứa trẻ không mang họ cha, cũng không mang họ mẹ mà mang họ của người chú. “Lúc đó gia đình chỉ nghĩ làm sao để cháu có giấy khai sinh, có tên tuổi đầy đủ, chứ cũng không nghĩ nhiều đến những hệ lụy sau này”, X. chia sẻ.

Theo Luật Hộ tịch năm 2014, việc cha mẹ tảo hôn, chưa đủ tuổi kết hôn không làm mất quyền được khai sinh của trẻ; nếu người cha thực hiện thủ tục nhận cha, con theo quy định, thông tin người cha vẫn có thể được ghi vào giấy khai sinh. Tuy nhiên, trên thực tế, hầu hết các gia đình vẫn để con mang họ mẹ hoặc họ người thân, khiến ngay từ khi cất tiếng khóc chào đời, đứa trẻ đã mang trên giấy tờ một dấu vết của cuộc hôn nhân dang dở về mặt pháp lý.

Anh Mùa A Dia, cán bộ Tư pháp, xã Na Son cho biết, những trường hợp tảo hôn, sau khi sinh con hầu hết đều làm giấy khai sinh theo họ mẹ, phần thông tin về cha để trống. Sau này, khi đủ tuổi đăng ký kết hôn, nếu gia đình có nhu cầu thì thực hiện thủ tục để bổ sung, điều chỉnh theo quy định. Tuy nhiên, trên thực tế, không phải trường hợp nào cũng thực hiện việc thay đổi, bổ sung. Nhiều gia đình sau khi cuộc sống ổn định lại tiếp tục để nguyên giấy tờ của con, khiến những thông tin thiếu hụt từ cuộc hôn nhân thời vị thành niên kéo dài theo đứa trẻ trong những năm tháng sau này.

Những câu chuyện ấy cho thấy, tảo hôn không chỉ là chuyện của mỗi gia đình, mà đã để lại những hệ lụy đối với sức khỏe, giáo dục, dân số và tương lai của cả cộng đồng. Khi những vòng lặp ấy vẫn tiếp diễn qua nhiều thế hệ, việc ngăn chặn tảo hôn không thể chỉ dừng ở tuyên truyền, vận động, mà cần một quyết tâm mạnh mẽ, đồng bộ hơn. Đó cũng là lý do tỉnh Điện Biên ban hành nghị quyết chuyên đề về phòng chống tảo hôn, hôn nhân cận huyết thống, đưa vấn đề này trở thành nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị, từ tỉnh đến thôn, bản.

Bài, ảnh: Võ Văn Tâm

Bài 3: Từ “chuyện riêng” thành nhiệm vụ chính trị

Nguồn Điện Biên Phủ: https://baodienbienphu.vn/tin-bai/chung-tay-day-lui-tao-hon-va-hon-nhan-can-huyet-thong/gianh-lai-tuoi-xuan-cho-nhung-dua-tre-bai-2