Giải bài toán lệch pha cung - cầu lao động
Hàng chục nghìn vị trí việc làm đang được các doanh nghiệp tại Thành phố Hồ Chí Minh tuyển dụng nhưng nhiều đơn vị vẫn không tìm đủ lao động, đặc biệt là lao động kỹ thuật và công nhân lành nghề. Trong khi đó, không ít người lao động, nhất là lao động trẻ, vẫn loay hoay tìm việc hoặc sẵn sàng từ chối những công việc không đáp ứng kỳ vọng. Nghịch lý 'việc tìm người - người tìm việc' đang phản ánh sự lệch pha ngày càng rõ giữa cung và cầu lao động.


Những ngày đầu tháng 7/2026, tại nhiều khu công nghiệp của Thành phố Hồ Chí Minh như Tân Thuận, Tân Bình, Tân Tạo, Vĩnh Lộc, Linh Trung hay Tân Phú Trung, không khó để bắt gặp những tấm bảng tuyển dụng treo ngay cổng nhà máy: “Tuyển dụng gấp”, “hỗ trợ tiền thuê nhà", “không yêu cầu kinh nghiệm”... Nhu cầu tuyển dụng tập trung ở các ngành thâm dụng lao động như dệt may, da giày, chế biến thực phẩm, điện - điện tử, cơ khí và logistics. Tuy nhiên, trái với kỳ vọng, nhiều doanh nghiệp cần tuyển số lượng lớn nhưng không tìm đủ người, các vị trí đòi hỏi tay nghề cao cũng khan hiếm ứng viên đáp ứng yêu cầu.
Cụ thể, tại Công ty trách nhiệm hữu hạn PouYuen Việt Nam, từ đầu năm 2026 đến nay, doanh nghiệp đã đăng ký tuyển dụng hơn 4.000 lao động nhưng vẫn chưa tuyển đủ nhân sự dù không yêu cầu kinh nghiệm, tay nghề và liên tục mở rộng các kênh tuyển dụng. Ông Củ Phát Nghiệp, Chủ tịch Công đoàn Công ty cho biết, ngoài mức thu nhập ổn định, doanh nghiệp còn triển khai nhiều chính sách hỗ trợ như thưởng tháng 13, bảo hiểm tai nạn 24/7, hỗ trợ tiền gửi trẻ, trường mầm non con công nhân, tổ chức xe đưa đón… nhưng kết quả tuyển dụng vẫn không như kỳ vọng.

Nhu cầu tuyển dụng lớn ở cả nhóm ngành truyền thống và cả nhóm ngành mới như dệt may, da giày, chế biến gỗ, cơ khí chính xác, logistics công nghệ cao.
Không chỉ tại khu vực trung tâm Thành phố, tình trạng tương tự cũng diễn ra ở nhiều địa bàn khu công nghiệp lân cận như VSIP, Mỹ Phước, Sóng Thần, Nam Tân Uyên, Bàu Bàng cùng các địa phương trọng điểm phía Nam khác… Nhu cầu tuyển dụng lớn ở cả nhóm ngành truyền thống và cả nhóm ngành mới như dệt may, da giày, chế biến gỗ, cơ khí chính xác, logistics công nghệ cao.
Hiện nhiều công ty có nhu cầu tuyển hàng trăm lao động để phục vụ sản xuất kinh doanh nhưng số lượng ứng tuyển rất ít. Nhiều doanh nghiệp cho biết, gần đây tìm lao động khó hơn so với trước, kể cả khi doanh nghiệp chấp nhận đào tạo từ đầu, ký hợp đồng trực tiếp, bảo đảm đầy đủ chế độ bảo hiểm và phúc lợi; nhiều doanh nghiệp cũng đã điều chỉnh tiền lương, tăng phụ cấp, cải thiện môi trường làm việc, mở rộng phúc lợi…
Theo bà Lý Kim Chi, Chủ tịch Hiệp hội Lương thực Thực phẩm Thành phố Hồ Chí Minh (FFA), vấn đề không nằm ở thiếu đơn hàng hay doanh nghiệp ép lương mà là tư duy chọn việc của người lao động hiện đã thay đổi. “Môi trường sản xuất công nghiệp không còn sức hút, nhất là với thế hệ trẻ, mà có xu hướng dịch chuyển sang kinh tế nền tảng như giao hàng, lái xe công nghệ hoặc làm việc tự do vì chủ động thời gian hơn so với làm việc theo ca từ 8 - 12 giờ trong nhà xưởng công nghiệp”, bà Chi chia sẻ.

Sinh viên, người lao động tìm việc tại ngày hội tuyển dụng việc làm.
Theo thống kê của Trung tâm Dịch vụ việc làm Thành phố Hồ Chí Minh, trong 6 tháng đầu năm 2026, doanh nghiệp cần tuyển gần 30.000 lao động trong khi chỉ có hơn 23.000 người tìm việc.
Một số ngành ghi nhận khoảng cách rất lớn giữa nhu cầu tuyển dụng và nguồn cung lao động. Chẳng hạn, lĩnh vực bất động sản - phát triển dự án cần gần 600 lao động nhưng chỉ có 2 người ứng tuyển; dịch vụ - nhà hàng - du lịch - bán lẻ cần 750 lao động nhưng chỉ hơn 40 người ứng tuyển; vận hành máy - sản xuất cần gần 4.400 lao động nhưng chỉ có hơn 1.900 người đăng ký. Đặc biệt, lĩnh vực xây dựng - hạ tầng - giao thông được trả lương rất cao, các chế độ phúc lợi thật tốt nhưng hiện vẫn không có người ứng tuyển.
Điều này làm mức độ cạnh tranh nhân lực giữa các doanh nghiệp càng trở nên gay gắt hơn cả bằng tiền lương, tăng các khoản hỗ trợ nhà ở, đi lại, đào tạo nghề, chăm sóc con nhỏ và phúc lợi dài hạn để giữ chân người lao động.

Trong bối cảnh sản xuất phục hồi và dòng vốn đầu tư tiếp tục đổ vào khu vực phía Nam, áp lực tuyển dụng ngày càng lớn, nhất là khi doanh nghiệp bước vào giai đoạn cao điểm cuối năm. Tuy nhiên, bài toán của thị trường lao động hiện nay không đơn thuần là thiếu người, mà là thiếu đúng người.
Khảo sát 6 tháng đầu năm 2026 của Trung tâm Dịch vụ việc làm Thành phố Hồ Chí Minh cho thấy sự thiếu hụt lao động diễn ra không đồng đều giữa các ngành nghề. Trong khi nhiều lĩnh vực kỹ thuật khát nhân lực, thì nhóm ngành văn phòng lại dư cung. Cụ thể, lĩnh vực nhân sự - hành chính - pháp chế - văn phòng chỉ có hơn 1.300 vị trí tuyển dụng nhưng gần 3.000 người tìm việc; kế toán - kiểm toán - thuế cần hơn 1.000 lao động nhưng có trên 1.500 người đăng ký. Những con số này cho thấy khoảng cách giữa cung - cầu lao động hiện nay không còn nằm ở số lượng, mà chủ yếu xuất phát từ sự lệch pha về cơ cấu ngành nghề, kỹ năng, chuyên môn và kỳ vọng việc làm.

Công nhân sản xuất ống chịu lực ly tâm trong Khu công nghiệp chuyên sâu Phú Mỹ 3, phường Tân Phước, TP Hồ Chí Minh.
Ông Nguyễn Trường Giang, Trưởng phòng nhân sự doanh nghiệp cơ khí tại Khu công nghiệp Tân Phú Trung nhìn nhận, đơn vị đã triển khai cùng lúc nhiều giải pháp tuyển dụng trên các nền tảng số, ngày hội việc làm, liên kết với các trường đào tạo. Tuy nhiên, nhiều vị trí tuyển dụng đến nay vẫn chưa tìm được ứng viên phù hợp làm ảnh hưởng đến kế hoạch mở rộng sản xuất, kinh doanh.
Tương tự, một số doanh nghiệp thuộc nhóm ngành công nghệ cao, tài chính, dịch vụ cao cấp sẵn sàng chi trả mức lương lên đến 100 triệu đồng/tháng, đi kèm các phúc lợi như bảo hiểm quốc tế, xe đưa đón, hoặc cổ phiếu thưởng nhưng vẫn ít người như mong đợi. Nguyên nhân được nhiều chuyên gia lao động cho là do nguồn cung nhân lực chưa đáp ứng được các tiêu chuẩn khắt khe về trình độ, kỹ thuật chuyên sâu, khả năng thích ứng công nghệ mới, năng lực ngoại ngữ…
Lý giải thêm về sự mất cân đối cung - cầu, bà Tô Thị Hải Vân, Trưởng phòng Nhân sự Công ty Trách nhiệm hữu hạn CoreLink HR cho rằng, lao động trẻ hiện nay có xu hướng ưu tiên công việc văn phòng hơn lao động kỹ thuật hoặc sản xuất. Trong khi đó, nhiều vị trí kỹ thuật có thu nhập ổn định và cơ hội phát triển tốt lại rất khó tuyển.

Khu công nghiệp VSIP (TP Hồ Chí Minh).
Ở góc nhìn chuyên gia, ông Trần Anh Tuấn, Phó Chủ tịch Hội Giáo dục nghề nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh cho rằng, sự lệch pha cung - cầu lao động còn có phần do cơ cấu đào tạo chưa kịp tốc độ phát triển kinh tế. Suốt nhiều năm, nguồn nhân lực đại học tăng nhanh, nhưng lao động kỹ thuật và công nhân lành nghề lại thiếu hụt cả số lượng lẫn chất lượng, nên doanh nghiệp phải tự đào tạo làm gia tăng kinh phí và kéo dài thời gian tuyển dụng. Bên cạnh đó, những tác động kinh tế khiến chi phí đời sống, sinh hoạt tại Thành phố tăng cao khiến nhiều người lao động ngoài tỉnh không còn đủ khả năng bám trụ, nhất là sau đại dịch COVID-19 nên lựa chọn trở lại quê nhà. Song song đó, kinh tế - xã hội tại nhiều địa phương phát triển nhanh, tạo thêm nhiều việc làm đã níu chân người lao động không quay lại Thành phố.
Nghịch lý "nhiều việc nhưng vẫn thiếu người" cho thấy thị trường lao động Thành phố Hồ Chí Minh không thiếu cơ hội việc làm, mà đang thiếu sự kết nối giữa nhu cầu tuyển dụng của doanh nghiệp với kỹ năng, kỳ vọng và lựa chọn nghề nghiệp của người lao động.


Nếu trước đây, thu nhập là yếu tố quyết định trong lựa chọn việc làm, thì nay người lao động, đặc biệt là lao động trẻ, đặt ra nhiều tiêu chí hơn khi tìm kiếm và gắn bó với một doanh nghiệp. Môi trường làm việc, cơ hội phát triển, sự cân bằng giữa công việc và cuộc sống hay chất lượng sống đang trở thành những yếu tố quan trọng, làm thay đổi diện mạo của thị trường lao động.
Tốt nghiệp đại học chuyên ngành Marketing, chị Nguyễn Thị Lan Anh quyết định không trở về quê ở Lâm Đồng mà ở lại Thành phố Hồ Chí Minh lập nghiệp. Giống như nhiều sinh viên mới ra trường, chị từng nghĩ chỉ cần tìm được một công việc ổn định với mức lương đủ trang trải cuộc sống là đã có thể bắt đầu hành trình của mình. Nhưng chỉ sau 3 tháng làm nhân viên bán hàng và chăm sóc khách hàng tại một doanh nghiệp tư nhân, chị Lan Anh quyết định nghỉ việc. Áp lực doanh số liên tục, công việc lặp lại mỗi ngày và thiếu cơ hội phát huy chuyên môn khiến chị nhận ra đây không phải nơi mình muốn gắn bó. Sau đó, chị chuyển sang làm chuyên viên kinh doanh cho một doanh nghiệp trong lĩnh vực in ấn với mức thu nhập cao hơn. Tuy nhiên, gần một năm sau, chị tiếp tục nghỉ việc.
Theo chị Lan Anh, lý do không nằm ở tiền lương mà ở cảm giác con đường phát triển nghề nghiệp, cơ hội thăng tiến quá mờ nhạt. "Tôi mong nơi làm việc có môi trường tốt, được học hỏi, phát triển và phù hợp với định hướng của bản thân. Nếu chỉ có lương mà không nhìn thấy tương lai thì rất khó gắn bó lâu dài", chị Lan Anh chia sẻ.

Người lao động tìm việc tại Trung tâm Dịch vụ việc làm Thành phố Hồ Chí Minh.
Ở một góc khác của thị trường lao động, Minh Khôi (quê An Giang) tốt nghiệp đại học ngành khoa học xã hội gần một năm nhưng vẫn chọn chạy xe công nghệ để có thu nhập. Không phải Khôi không tìm được việc đúng chuyên môn nhưng mức lương và điều kiện làm việc chưa đáp ứng kỳ vọng của anh. "Trong lúc tìm công việc phù hợp, mình tranh thủ chạy xe để trang trải cuộc sống. Khi nào tìm được công việc đúng định hướng thì mình sẽ chuyển", Khôi nói.
Không chỉ thay đổi cách lựa chọn công việc, nhiều người lao động hiện nay còn thay đổi cả lựa chọn nơi sinh sống. Nếu trước đây, các đô thị lớn là điểm đến để tìm kiếm cơ hội thì nay không ít người quyết định trở về quê hoặc chuyển đến các đô thị vệ tinh để có cuộc sống cân bằng hơn.
Anh Trần Ngọc Quý (quê Đồng Tháp), sau nhiều năm làm việc tại Thành phố Hồ Chí Minh với nhiều công việc khác nhau từ giao hàng đến nhân viên văn phòng nhận ra điều mình thiếu không phải là thu nhập mà là sự cân bằng trong cuộc sống. Áp lực công việc, nhịp sống gấp gáp và chi phí sinh hoạt ngày càng cao khiến anh quyết định chuyển về sinh sống tại một đô thị vệ tinh. Theo anh Quý, thu nhập giảm nhưng đổi lại là khoảng thời gian dành cho gia đình, cho bản thân và một cuộc sống ít áp lực hơn. "Mình nhận ra tiền bạc rất quan trọng nhưng một không gian sống yên bình, có thời gian cho bản thân và gia đình mới là giá trị cốt lõi", Quý chia sẻ.

Người lao động tìm việc tại Trung tâm Dịch vụ việc làm Thành phố Hồ Chí Minh.
Bên cạnh đó, sự phát triển của các khu công nghiệp, trung tâm logistics và các dự án đầu tư tại nhiều địa phương cũng tạo thêm cơ hội việc làm ngay tại quê nhà. “Mức lương có thể thấp hơn đôi chút nhưng đổi lại là chi phí sinh hoạt thấp hơn, được sống gần gia đình, giảm áp lực cuộc sống nơi đô thị. Người lao động không nhất thiết phải rời quê để tìm việc như trước đây”, ông Trần Anh Tuấn, Phó Chủ tịch Hội Giáo dục nghề nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh, nhận định.
Phân tích xu hướng này, bà Đặng Mỹ Duyên, chuyên gia tư vấn của Công ty Trách nhiệm hữu hạn Giải pháp Nhân sự Hub (Thành phố Hồ Chí Minh) cho rằng, thu nhập vẫn là điều kiện quan trọng, nhưng không còn là yếu tố duy nhất quyết định sự gắn bó. Lực lượng lao động trẻ ngày càng quan tâm nhiều hơn đến môi trường làm việc, cơ hội học hỏi, khả năng thăng tiến, chế độ phúc lợi, sự cân bằng giữa công việc và cuộc sống cũng như mức độ phù hợp giữa công việc với giá trị và mục tiêu cá nhân.
“Sự thay đổi này trở nên rõ nét hơn sau đại dịch COVID-19 và những biến động kinh tế những năm gần đây. Khi chứng kiến nhiều doanh nghiệp cắt giảm nhân sự hoặc thu hẹp sản xuất, người lao động có xu hướng cân nhắc kỹ hơn trước mỗi quyết định nghề nghiệp. Đây là xu hướng khá phổ biến ở lực lượng lao động trẻ hiện nay", bà Duyên nhận định.

Cùng quan điểm, Tiến sỹ Nguyễn Thụy Vũ, Viện trưởng Viện Đào tạo và Nâng cao Thành phố Hồ Chí Minh cho rằng, thị trường lao động đang bước vào giai đoạn chuyển đổi mạnh mẽ. Nếu trước đây doanh nghiệp là bên lựa chọn người lao động thì nay người lao động cũng có quyền lựa chọn doanh nghiệp để có được cơ hội tốt nhất về lương, thưởng, môi trường văn hóa, chính sách phúc lợi, sự tôn trọng, tính ổn định…
Theo ông Vũ, nhìn nhận lao động trẻ "kén việc" chưa phản ánh đầy đủ bản chất của vấn đề. Thực chất, thị trường lao động đang chứng kiến quá trình tái định hình quan hệ lao động, khi người lao động không còn là bên thụ động chờ được tuyển dụng mà đã trở thành chủ thể có nhiều quyền lựa chọn và thương lượng hơn. "Từ thực tiễn đó, doanh nghiệp cũng cần thay đổi tư duy quản trị nhân sự, chuyển từ mục tiêu tuyển được người sang giữ được người. Bên cạnh tiền lương và chế độ đãi ngộ, môi trường làm việc, cơ hội phát triển và niềm tin mà doanh nghiệp tạo dựng cho người lao động sẽ ngày càng trở thành những yếu tố quyết định", Tiến sỹ Nguyễn Thụy Vũ nhận định.
Những thay đổi trong tư duy lựa chọn việc làm cũng phần nào lý giải vì sao thị trường lao động vẫn tồn tại nghịch lý doanh nghiệp liên tục tuyển dụng nhưng không dễ tìm được người phù hợp, trong khi nhiều lao động vẫn tiếp tục tìm kiếm cơ hội mới.

Trong Chiến lược lao động - việc làm giai đoạn 2026 - 2030, Thành phố Hồ Chí Minh xác định phát triển việc làm bền vững gắn với kinh tế số, kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn, công nghệ cao và dịch vụ chất lượng cao. Để hiện thực hóa mục tiêu này, cùng với thu hút đầu tư, xây dựng nguồn nhân lực có khả năng thích ứng với sự thay đổi của thị trường được xem là nhiệm vụ then chốt.
Thực tế cho thấy, chuyển đổi số, tự động hóa và trí tuệ nhân tạo (AI) đang làm thay đổi sâu sắc cơ cấu việc làm. Nhu cầu đối với lao động có kỹ năng công nghệ, khả năng vận hành hệ thống thông minh và làm việc trong môi trường số ngày càng gia tăng, trong khi nhiều công việc giản đơn dần được thay thế bằng máy móc.

Phòng thí nghiệm Công nghệ Sinh học, Trường Đại học Quốc tế, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh.
Theo Tiến sỹ Nguyễn Thụy Vũ, Viện trưởng Viện Đào tạo và Nâng cao Thành phố Hồ Chí Minh, thách thức lớn nhất hiện nay là khoảng cách giữa yêu cầu của doanh nghiệp với năng lực thực tế của người lao động. Bên cạnh đó là sự chênh lệch về kỳ vọng đối với môi trường làm việc, thu nhập, phúc lợi và cơ hội phát triển giữa người lao động và doanh nghiệp.
Trong bối cảnh Thành phố đẩy mạnh thu hút đầu tư vào các lĩnh vực công nghệ cao, bán dẫn, tự động hóa và sản xuất xanh, nhu cầu nhân lực chất lượng cao ngày càng cấp thiết. Nếu đào tạo không theo kịp nhu cầu thị trường hoặc doanh nghiệp chưa tham gia hiệu quả vào quá trình phát triển nguồn nhân lực thì nguy cơ một bộ phận người lao động bị bỏ lại phía sau là rất rõ. “Năng lực học tập suốt đời và khả năng thích ứng sẽ là “chìa khóa” để người lao động nắm bắt cơ hội trong giai đoạn phát triển mới”, ông Vũ khuyến nghị.

Trung tâm Đào tạo khu công nghệ cao Thành phố Hồ Chí Minh (SHTP-Traing) có Trung tâm Đào tạo và chuyển giao công nghệ Việt Nhật trực thuộc SHTP và một tổ hợp phòng thí nghiệm Robot - Tự động hóa (Robot-Automation Hub) với nhiều Robot và thiết bị máy móc hiện đại.
Từ thực tiễn sản xuất tại Khu Công nghệ cao thành phố, kỹ sư cơ khí Mai Văn Ngọc cho biết, nhiều doanh nghiệp không thiếu đơn hàng hay vị trí việc làm nhưng gặp khó trong tuyển dụng lao động có khả năng vận hành dây chuyền sản xuất thông minh và hệ thống tự động. Doanh nghiệp cần người lao động có kỹ năng thực hành và kinh nghiệm thực tế để có thể làm việc ngay.
Ở góc độ đào tạo, Phó Giáo sư, Tiến sỹ Đàm Sao Mai, Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh cho rằng, nhà trường là nơi trang bị nền tảng chuyên môn cho sinh viên chứ không thiết kế chương trình riêng cho từng doanh nghiệp. Do vậy, để đáp ứng yêu cầu, doanh nghiệp cần tham gia sâu hơn vào quá trình đào tạo thông qua cơ chế đặt hàng, phối hợp xây dựng chương trình, tổ chức thực hành, bồi dưỡng kỹ năng chuyên sâu theo nhu cầu thực tế.
Trong bối cảnh chuyển đổi số diễn ra mạnh mẽ, yêu cầu đối với nguồn nhân lực không chỉ dừng ở trình độ chuyên môn mà còn mở rộng sang kỹ năng số, kỹ năng xanh, ngoại ngữ, kỹ năng mềm và khả năng thích ứng với những thay đổi của thị trường. Khi AI và tự động hóa phát triển nhanh, lợi thế cạnh tranh của người lao động không còn nằm ở một nghề nghiệp cụ thể mà ở năng lực học tập suốt đời, tư duy đổi mới và khả năng thích ứng với công nghệ được xem là “chiếc chìa khóa” để xây dựng lực lượng lao động chất lượng cao.

Trung tâm Dịch vụ việc làm TP Hồ Chí Minh đồng loạt tổ chức “Ngày hội tuyển dụng việc làm trực tiếp và trực tuyến năm 2026 lần thứ 2” tại 3 khu vực gồm: TP Hồ Chí Minh, Bình Dương, Bà Rịa - Vũng Tàu và kết nối với 6 điểm tiếp nhận bảo hiểm thất nghiệp giới thiệu việc làm.
Theo ông Park Joon-ho, chuyên gia tư vấn nhân lực Hàn Quốc tại Việt Nam, tại Hàn Quốc và Đức, doanh nghiệp không chỉ là nơi sử dụng lao động mà còn là một mắt xích trong hệ thống đào tạo. Doanh nghiệp tham gia xây dựng chương trình, đánh giá kỹ năng và chịu trách nhiệm về chất lượng nguồn nhân lực. Nhờ đó, khoảng cách giữa đào tạo và việc làm được thu hẹp đáng kể.
Thực tiễn này cho thấy, để xây dựng thị trường lao động hiện đại, Thành phố Hồ Chí Minh cần tăng cường sự liên kết giữa Nhà nước, cơ sở đào tạo, doanh nghiệp và người lao động. Khi các chủ thể cùng tham gia vào quá trình phát triển nguồn nhân lực, thị trường lao động sẽ có khả năng thích ứng tốt hơn với những biến động của nền kinh tế và yêu cầu của kỷ nguyên mới.

Nếu đào tạo và nâng cao kỹ năng giúp người lao động thích ứng với sự chuyển dịch của nền kinh tế thì môi trường làm việc bền vững sẽ quyết định khả năng thu hút, giữ chân và phát huy nguồn nhân lực. Trong bối cảnh cạnh tranh lao động ngày càng gay gắt, việc làm bền vững không chỉ được đo bằng thu nhập mà còn bởi cơ hội phát triển nghề nghiệp, điều kiện làm việc, chế độ phúc lợi và khả năng gắn bó lâu dài của người lao động.
Theo bà Lượng Thị Tới, Phó Giám đốc Sở Nội vụ Thành phố Hồ Chí Minh, Chiến lược lao động - việc làm giai đoạn 2026 - 2030 đặt mục tiêu xây dựng hệ sinh thái việc làm bền vững theo hướng nâng cao chất lượng việc làm; tăng cường đào tạo, nâng cao kỹ năng cho người lao động, nhất là các nhóm chịu tác động từ chuyển đổi số, ứng dụng công nghệ và tái cơ cấu ngành nghề. "Từ năm 2027, Thành phố sẽ mở rộng các chương trình đào tạo theo đơn đặt hàng của doanh nghiệp trong những lĩnh vực có nhu cầu nhân lực lớn như cơ khí chính xác, logistics, công nghệ thông tin và tài chính. Điểm mới của mô hình là doanh nghiệp sẽ tham gia xây dựng chương trình đào tạo, đánh giá kỹ năng và tiếp nhận lao động sau đào tạo, qua đó hình thành chuỗi liên kết từ đào tạo đến việc làm, bảo đảm đầu ra cho người học và đáp ứng sát nhu cầu của thị trường lao động", bà Tới nhấn mạnh.

Theo bà Tới, việc tăng cường kết nối giữa cơ quan quản lý, cơ sở đào tạo và doanh nghiệp sẽ góp phần rút ngắn khoảng cách giữa đào tạo và nhu cầu thực tiễn; đồng thời tạo nền tảng để người lao động có cơ hội phát triển nghề nghiệp lâu dài trong môi trường làm việc ổn định.
Ở góc độ chuyên gia, Tiến sỹ Nguyễn Thụy Vũ cho rằng, để không ai bị bỏ lại phía sau trong quá trình chuyển đổi, Thành phố cần triển khai các chương trình đào tạo lại với quy mô đủ lớn, đủ nhanh và bám sát nhu cầu thực tế của doanh nghiệp. Cùng với đó, xây dựng hệ thống dữ liệu thị trường lao động thống nhất nhằm dự báo nhu cầu nhân lực, định hướng đào tạo và hỗ trợ chuyển đổi nghề hiệu quả hơn.

Đông đảo người lao động tham gia Sàn giao dịch việc làm chuyên ngành Du lịch Thành phố Hồ Chí Minh năm 2026.
Theo Tiến sỹ Nguyễn Thụy Vũ, việc làm bền vững chỉ có thể được bảo đảm khi có sự phối hợp chặt chẽ giữa Nhà nước, doanh nghiệp và cơ sở đào tạo. Bên cạnh việc mở rộng các chương trình đào tạo lại và chuyển đổi nghề, cần xây dựng cơ chế giám sát thông qua các chỉ số như tỷ lệ lao động được đào tạo lại, tỷ lệ có việc làm sau đào tạo và mức cải thiện thu nhập. Đây sẽ là cơ sở để đánh giá hiệu quả chính sách; đồng thời kịp thời điều chỉnh các chương trình hỗ trợ phù hợp với diễn biến của thị trường lao động.
Ở góc độ dài hạn, Tiến sỹ Nguyễn Hữu Long, giảng viên Trường Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh cho rằng, phát triển môi trường làm việc bền vững cần gắn với chiến lược phát triển kinh tế của Thành phố. Theo đó, cần chuyển từ tư duy "thu hút đầu tư bằng mọi giá" sang "lựa chọn có điều kiện", trong đó chất lượng việc làm phải trở thành một tiêu chí quan trọng. "Các dự án không chỉ được đánh giá bằng hiệu quả kinh tế mà còn bằng khả năng tạo việc làm bền vững, mức độ sử dụng lao động có kỹ năng và cam kết đào tạo, chuyển giao công nghệ. Điều này sẽ góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và sức cạnh tranh của nền kinh tế", ông Long phân tích.

Mô hình khu công nghiệp Bắc Tân Uyên 1 chuyên sâu lĩnh vực cơ khí.
Theo ông Long, việc lồng ghép các tiêu chí về lao động và phát triển nguồn nhân lực vào quy trình thẩm định dự án sẽ gắn trách nhiệm của doanh nghiệp với sự phát triển của thị trường lao động. Đồng thời, cần có cơ chế giám sát sau cấp phép nhằm bảo đảm các cam kết về sử dụng lao động, đào tạo và phát triển nhân lực được thực hiện đầy đủ.
Có thể thấy, thị trường lao động trong giai đoạn mới không chỉ cần thêm việc làm mà cần một "bản giao ước" mới giữa Nhà nước, doanh nghiệp, cơ sở đào tạo và người lao động. Khi các chủ thể cùng chia sẻ trách nhiệm trong đào tạo, tuyển dụng, phát triển kỹ năng và xây dựng môi trường làm việc bền vững, thị trường lao động sẽ vận hành hiệu quả hơn, tạo nền tảng cho tăng trưởng nhanh và bền vững của Thành phố Hồ Chí Minh trong kỷ nguyên mới.

***
Bài: Thanh Vũ
Ảnh, đồ họa: TTXVN - TTXVN phát
Biên tập: Kỳ Thư
Trình bày: Phùng Sắc
11/07/2026 05:55









![[GALLERY] Robot AI pha trà, Trung Quốc biến lá trà thành 'mỏ vàng' mới](https://photo-baomoi.bmcdn.me/w250_r3x2/2026_07_11_180_55595730/015d496d1b26f278ab37.jpg)














![[VIDEO] Công đoàn Petrovietnam sơ kết công tác 6 tháng đầu năm 2026](https://photo-baomoi.bmcdn.me/w250_r3x2/2026_07_11_232_55596074/cf9dc8a19aea73b42afb.jpg)





