Gia Lai: Đẩy mạnh chuyển đổi số trong các cơ quan Đảng tỉnh
Chuyển đổi số đang từng bước đổi mới phương thức lãnh đạo, điều hành trong các cơ quan Đảng tỉnh Gia Lai, tạo nền tảng chuyển từ “số hóa công việc” sang “lãnh đạo, điều hành dựa trên dữ liệu”.
Nghị quyết số 57-NQ/TW, ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị xác định phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là đột phá quan trọng hàng đầu. Với các cơ quan Đảng, chuyển đổi số vì thế không chỉ là thay hồ sơ giấy bằng hồ sơ điện tử, mà quan trọng hơn là đổi mới phương thức làm việc, tái cấu trúc quy trình và khai thác hiệu quả dữ liệu phục vụ lãnh đạo, chỉ đạo.

Hội nghị tập huấn triển khai sử dụng, khai thác các hệ thống thông tin, phần mềm ứng dụng chuyển đổi số phục vụ hoạt động trong các cơ quan Đảng năm 2026. Ảnh: Đăng Vũ
Từ hạ tầng đến số hóa quy trình
Cụ thể hóa chủ trương của Trung ương, Ban Thường vụ Tỉnh ủy Gia Lai đã ban hành các kế hoạch, văn bản triển khai chuyển đổi số trong các cơ quan Đảng, tập trung vào hạ tầng số, nền tảng dùng chung, số hóa quy trình nghiệp vụ, tạo lập và khai thác dữ liệu; đồng thời gắn trách nhiệm thực hiện với cấp ủy và người đứng đầu.
Năm 2025, khối cơ quan Đảng được cấp 5,44 tỷ đồng để mua sắm 272 máy tính cho 124 đảng ủy trực thuộc; đồng thời đăng ký nhu cầu khoảng 95 tỷ đồng trong giai đoạn 2026-2030 để đầu tư thiết bị công nghệ thông tin, hệ thống hội nghị trực tuyến và chỉnh lý tài liệu. Xử lý văn bản điện tử, phòng họp không giấy, hội nghị trực tuyến từng bước đi vào nền nếp, góp phần giảm giấy tờ, tiết kiệm thời gian và tăng tính liên thông trong chỉ đạo, điều hành.
Tuy nhiên, chuyển đổi số không thể đo bằng số lượng thiết bị hay phần mềm được đưa vào sử dụng. Nếu một quy trình chỉ chuyển từ giấy sang máy tính nhưng vẫn nhập liệu nhiều lần, xử lý qua nhiều tầng nấc hoặc duy trì song song hồ sơ giấy và điện tử thì mới dừng ở tin học hóa. Giá trị thực chất phải nằm ở việc tái cấu trúc quy trình, dùng chung dữ liệu, rút ngắn thời gian xử lý và nâng cao chất lượng tham mưu, phục vụ quyết định lãnh đạo, chỉ đạo.
Dữ liệu trở thành nguồn lực
Nếu hạ tầng là nền móng thì dữ liệu là tài sản cốt lõi của chuyển đổi số. Đến nay, các cơ quan Đảng tỉnh đã số hóa hơn 3,8 triệu trang tài liệu đủ điều kiện khai thác qua mạng. Riêng Lưu trữ lịch sử Đảng của Tỉnh ủy, hơn 1,98 triệu trang tài liệu đã được chỉnh lý hoàn chỉnh và đang thực hiện các thủ tục để số hóa.
Một bước tiến quan trọng là triển khai Kế hoạch số 91-KH/TU, ngày 01/8/2026 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về số hóa, tạo lập dữ liệu đảng viên, hồ sơ đảng viên điện tử. Việc số hóa được thực hiện gắn với rà soát, đối soát, chuẩn hóa thông tin giữa hồ sơ giấy và hồ sơ điện tử, hướng tới dữ liệu “đúng, đủ, sạch, sống, thống nhất, dùng chung”.
Mục tiêu không phải tạo thêm những “kho hồ sơ điện tử”, mà hình thành nguồn dữ liệu có khả năng cập nhật, kết nối và khai thác. Khi dữ liệu về tổ chức đảng, đảng viên được chuẩn hóa, việc tra cứu, tổng hợp sẽ nhanh hơn, hạn chế nhập liệu trùng lặp, qua đó phục vụ hiệu quả hơn công tác quản lý đảng viên, công tác cán bộ và hoạt động lãnh đạo, chỉ đạo.
Đưa chuyển đổi số vào từng lĩnh vực nghiệp vụ
Chuyển đổi số đang được triển khai ngày càng sâu vào các lĩnh vực nghiệp vụ của các cơ quan Đảng. Từ tháng 2-2026, Ban Tuyên giáo và Dân vận Tỉnh ủy chủ trì cung cấp bản tin điện tử phục vụ sinh hoạt chi bộ, cập nhật trên Sổ tay đảng viên, hướng tới 100% chi bộ sử dụng bản tin điện tử, từng bước thay thế bản tin giấy.

Cùng với hoàn thiện nền tảng, nâng cao năng lực số cho đội ngũ được xác định là nhiệm vụ quan trọng. Phong trào “Bình dân học vụ số” được Ban Tuyên giáo và Dân vận Tỉnh ủy chỉ đạo triển khai rộng rãi, giúp cán bộ, đoàn viên, thanh niên làm quen và từng bước ứng dụng công cụ số, trí tuệ nhân tạo vào công việc. Văn phòng Tỉnh ủy đã tổ chức 13 lớp tập huấn về chuyển đổi số, kỹ năng số cho 1.542 cán bộ, công chức, viên chức, góp phần nâng cao khả năng khai thác công nghệ trong thực hiện nhiệm vụ.
Việc ứng dụng số trực tiếp trong hoạt động của tổ chức đảng và đảng viên cũng có những chuyển biến rõ nét. Đến ngày 20/8/2026, toàn tỉnh có 5.055/5.680 chi bộ tổ chức sinh hoạt trên Sổ tay đảng viên điện tử, đạt 88,99%; 94,33% đảng viên được cấp tài khoản, trong đó 90,93% thường xuyên đăng nhập, sử dụng.
Đáng chú ý, sinh hoạt thường kỳ và đánh giá chất lượng sinh hoạt chi bộ trên ứng dụng đang từng bước trở thành nền nếp, tạo cơ sở theo dõi, kiểm tra thống nhất, góp phần hạn chế tính hình thức trong sinh hoạt và đánh giá. Riêng trong tháng 8, có 61 đảng bộ trực thuộc Tỉnh ủy có 100% chi bộ tổ chức sinh hoạt thường kỳ và đánh giá chất lượng sinh hoạt trên ứng dụng.
Ban Thường vụ Tỉnh ủy cũng đã ban hành Kế hoạch số 70-KH/TU, ngày 28/4/2026 về thực hiện 4 thủ tục hành chính của Đảng trên môi trường điện tử, từng bước chuyển từ phương thức xử lý hồ sơ giấy sang xử lý số.
Những kết quả trên cho thấy chuyển đổi số trong các cơ quan Đảng đã chuyển sang giai đoạn mới: không chỉ xây dựng hệ thống mà phải xử lý những điểm nghẽn phát sinh trong vận hành thực tế. Ban Chỉ đạo tỉnh đã ban hành kế hoạch hành động về 100 ngày tập trung xử lý các điểm nghẽn chuyển đổi số trong các cơ quan Đảng tỉnh Gia Lai, hướng tới tháo gỡ những vướng mắc trực tiếp ảnh hưởng đến khả năng vận hành, kết nối và khai thác các nền tảng số.
Chuyển mạnh sang lãnh đạo, điều hành dựa trên dữ liệu
Bên cạnh kết quả đạt được, chuyển đổi số trong các cơ quan Đảng tỉnh vẫn còn những vấn đề cần tiếp tục giải quyết. Chất lượng dữ liệu chưa đồng đều; kết nối, chia sẻ dữ liệu giữa các hệ thống còn hạn chế; năng lực số của cán bộ chưa đồng đều; khối lượng tài liệu cần số hóa còn lớn, trong khi yêu cầu bảo đảm an toàn thông tin và bảo vệ bí mật nhà nước ngày càng cao.
Thời gian tới, trọng tâm không chỉ là tiếp tục đầu tư hạ tầng, phần mềm mà phải khai thác hiệu quả những nền tảng và dữ liệu đã có. Trước hết, cần hoàn thiện, chuẩn hóa các cơ sở dữ liệu, xác định rõ trách nhiệm của từng cơ quan trong tạo lập, cập nhật và quản trị dữ liệu; từng bước kết nối, chia sẻ và tái sử dụng dữ liệu, nhất là dữ liệu về tổ chức đảng, đảng viên, cán bộ và hồ sơ nghiệp vụ.
Cùng với đó, cần rà soát, tái cấu trúc các quy trình đủ điều kiện xử lý trên môi trường số, từ tiếp nhận, tham mưu, trình duyệt, ký số đến phát hành, lưu trữ; hạn chế tối đa việc xử lý song song giữa hồ sơ điện tử và hồ sơ giấy.
Yêu cầu đặt ra là cán bộ phải sử dụng hiệu quả các nền tảng số ngay trong công việc hằng ngày. Công tác đào tạo cần gắn với vị trí việc làm và yêu cầu nghiệp vụ cụ thể. Việc nghiên cứu ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong tìm kiếm, tổng hợp, phân tích thông tin và hỗ trợ tham mưu cần đi đôi với kiểm soát chất lượng, bảo mật và trách nhiệm của người sử dụng. An toàn thông tin, an ninh mạng và bảo vệ bí mật nhà nước phải là yêu cầu xuyên suốt trong toàn bộ quá trình chuyển đổi số.
Quan trọng hơn, hiệu quả chuyển đổi số phải được đo bằng sự thay đổi về chất lượng và hiệu quả công việc, không chỉ bằng số lượng thiết bị, phần mềm hay tài khoản được cấp. Mỗi nhiệm vụ cần xác định rõ người thực hiện, thời hạn, sản phẩm và kết quả; việc đánh giá cần hướng tới các chỉ số thực chất như thời gian xử lý, chất lượng tham mưu, mức độ khai thác dữ liệu và hiệu quả phục vụ lãnh đạo, chỉ đạo.
Từ những bước đi cụ thể, chuyển đổi số trong các cơ quan Đảng tỉnh Gia Lai đang từng bước chuyển từ số hóa hồ sơ sang số hóa quy trình, từ xây dựng hệ thống sang khai thác dữ liệu. Khi dữ liệu được chuẩn hóa, quy trình được tái cấu trúc và công nghệ được sử dụng thực chất trong công việc, chuyển đổi số sẽ trở thành phương thức quan trọng góp phần nâng cao chất lượng tham mưu, lãnh đạo và chỉ đạo trong các cơ quan Đảng tỉnh.

