Ghi nhận từ cuộc thi sáng tác 'Lâm Đồng phát triển bền vững'

Cuộc thi sáng tác văn học nghệ thuật (VHNT) 'Lâm Đồng phát triển bền vững' năm 2025 thu hút sự tham gia sôi nổi của văn nghệ sĩ với 225 tác phẩm của 106 tác giả ở 5 chuyên ngành: văn xuôi, thơ, âm nhạc, nhiếp ảnh và mỹ thuật. Riêng lĩnh vực văn học có 92 tác phẩm (35 văn xuôi, 57 thơ), thể hiện tinh thần trách nhiệm và sự nhập cuộc của người cầm bút trước những chuyển động lớn của quê hương Lâm Đồng sau sáp nhập.

Trao giải thưởng cho các tác giả đoạt giải

Trao giải thưởng cho các tác giả đoạt giải

Trong 42 giải thưởng đã được trao cho các tác phẩm xuất sắc, thì văn học có 19 tác phẩm gồm 10 tác phẩm văn xuôi (5 truyện ngắn, 3 truyện ký, 1 tùy bút, 1 tản văn) và 9 bài thơ. Con số ấy không chỉ phản ánh sự phong phú về số lượng mà còn cho thấy nỗ lực tìm tòi, đổi mới của các tác giả trong việc tiếp cận một đề tài vừa mang tính thời sự, vừa đòi hỏi chiều sâu tư tưởng và cảm xúc thẩm mỹ.

Những câu chuyện lay động từ đời sống

Ở mảng văn xuôi, các tác phẩm tham dự đã bám khá sát đời sống thực tiễn của tỉnh Lâm Đồng (mới), với không gian địa lý mở rộng từ cao nguyên bazan đến duyên hải, từ đại ngàn đến biển xanh. Dù chưa có tác phẩm đạt đến độ trọn vẹn để trao giải nhất nhưng nhiều truyện ngắn, bút ký đã tạo được dư âm, thể hiện lao động nghệ thuật nghiêm túc và cá tính sáng tạo rõ nét.

Nổi bật là truyện ngắn “Nhuộm màu cho cô đơn” của Ngân Kim - một tác phẩm giàu chất suy tưởng. Câu chuyện kể về Nhân, nữ y sĩ sống trên hòn đảo xa khắc nghiệt, lựa chọn ở lại phụng dưỡng mẹ, chữa bệnh cho dân, không lập gia đình. Hình ảnh “cây cô đơn” trên đỉnh núi lặp lại như biểu tượng cho sự kiên định trước lựa chọn sống có ích. Tác phẩm tôn vinh những con người âm thầm hi sinh và gửi gắm thông điệp: nếu không thể tránh khỏi cô đơn, hãy nhuộm màu cho cô đơn thật rực rỡ.

Truyện ngắn “Thắp đèn cưới vợ miệt vườn thanh long” của Nguyễn Bá Khương là câu chuyện tình yêu vượt biên giới giữa chàng trai người Úc và cô gái miệt vườn Hàm Thuận. Không chỉ ca ngợi tình yêu không rào cản, mà còn tôn vinh giá trị của lao động nông nghiệp trong bối cảnh hội nhập. Hình ảnh vườn thanh long rực sáng trong đêm cưới trở thành biểu tượng cho tri thức, khoa học kỹ thuật và sự đổi đời trên mảnh đất khô hạn nhưng giàu sức sống.

Ở sắc thái trầm lắng hơn, truyện ngắn “Người thợ già và chàng trai nhiếp ảnh” của Nguyễn Thành Tài là cuộc đối thoại tinh tế giữa hai thế hệ. Ông Sáu - người thợ làm bánh hỏi cả đời gắn bó với lò lửa. Chàng nhiếp ảnh trẻ, ban đầu say mê khoảnh khắc và giải thưởng, dần nhận ra rằng có những vẻ đẹp không thể “săn” bằng ống kính, lưu giữ bằng những khung hình, mà chỉ có thể thấu hiểu bằng cách sống cùng và ghi vào ký ức.

Truyện ngắn “Người miền ngược” của Trần Duệ gây ấn tượng về lòng biết ơn và trách nhiệm xã hội. Nhân vật Trần Mè, một cầu thủ tài năng từ chối con đường danh vọng để trở về miền núi nghèo, nơi từng cưu mang gia đình anh. Tác phẩm khẳng định rằng, tri thức chỉ thực sự có ý nghĩa khi phục vụ cộng đồng và quê hương.

Ở thể loại ký và tản văn, các tác phẩm như: “Xanh màu tình yêu” (Hoàng Ngọc Thanh), “Mùa Atiso thương nhớ” (Trần Thị Thanh Thủy), “Tâm thức của một gia tộc ở xứ trà B’Lao” (Nguyễn Nhiệt Thành), hay tùy bút “Đường xuân phía trước” (Tống Kiều Oanh) đã mở ra những không gian văn hóa giàu bản sắc, góp phần khắc họa chiều sâu của Lâm Đồng trong hành trình phát triển bền vững.

Thơ mang cảm xúc tươi mới

Các tác phẩm thơ ghi nhận nhiều tìm tòi đáng chú ý cả về cảm xúc lẫn hình thức biểu đạt. 57 tác phẩm của 24 tác giả đã phản ánh những chuyển động lớn của quê hương Lâm Đồng bằng ngôn ngữ hình tượng. Nhiều bài thơ chọn đi từ những chi tiết nhỏ bé, thân quen của núi rừng, buôn làng, con người lao động để mở ra chiều sâu suy tư về cội nguồn, cộng đồng và khát vọng phát triển bền vững, khơi gợi sự liên tưởng, tạo mỹ cảm.

Tác phẩm “Dấu chân bazan và sóng” của Phạm Văn Trang gây ấn tượng bởi tầm khái quát không gian và ý thức cộng đồng rõ nét. Ở đó, hình ảnh Lâm Đồng trong thế liên kết mới, nơi cao nguyên bazan hòa nhịp cùng biển lớn, nơi mây núi, cồng chiêng, cát và sóng cùng hiện diện trong một trường cảm xúc. 2 câu thơ: “Ba miền đất nắm tay nhau / trong nhịp tim của những con sóng và rừng già” không chỉ gợi sự giao hòa, mà còn nâng bài thơ từ tả cảnh lên ý niệm về tương lai của một vùng đất rộng lớn, giàu bản sắc.

Cùng chiều sâu cảm xúc ấy, “Lời ru của núi” của Võ Văn Hân lại chạm đến tầng sâu văn hóa bản địa Tây Nguyên. Bài thơ là khúc ru trầm lắng của núi rừng Tà Đùng, nơi mẹ, bà, bếp lửa, trăng, nước và bazan hòa làm “sữa” nuôi dưỡng con người. Hình ảnh thơ thiêng liêng và bao dung: “Bụng núi Tà Đùng lắng sương làm sữa / bóng núi nặng lời ru / chờ em” chính là lời ru văn hóa truyền đời, chở che con người giữa thiên nhiên hùng vĩ.

Cuộc thi cho thấy sự gắn bó của VHNT với thực tiễn đời sống, với con người và vùng đất đang chuyển mình mạnh mẽ. Dù chưa có tác phẩm đạt tầm lớn nhưng những gì đạt được cho thấy sự bám sát đời sống, giữ gìn giá trị truyền thống và nỗ lực tìm tòi đổi mới, đặc biệt ở các cây bút trẻ. Đây là nền tảng quan trọng để VHNT Lâm Đồng tiếp tục phát triển.

Bà Nguyễn Thị Huyền Diệu, Phó Chủ tịch Hội VHNT tỉnh.

Bên cạnh 2 tác phẩm đoạt giải Nhì (không có giải Nhất) ấy, nhiều bài thơ khác cũng góp phần làm dày thêm diện mạo cuộc thi. “Cánh gió Đạ M’rông” (Trịnh Chu) mang vẻ đẹp trẻ trung, phóng khoáng, nơi con người tan vào gió núi, cồng chiêng và tình yêu. “Làng tỉa trời trên đá” (Lê Ngọc Dũng) gây ấn tượng bởi hình ảnh lao động gian khó mà kiêu hãnh của người M’nông, làm cho “đá cất tiếng”, cho ngô lúa nảy mầm hi vọng. “Kỳ quan xanh” (Lê Đình Trọng) mở rộng tầm nhìn về miền di sản hợp nhất rừng - biển - cao nguyên, trong khi “Xin một lần hò hẹn với Đam Rông” (Vũ Hải Đường), “Hồi sinh” (Diệp Vy) hay “Hãy yêu nhau ở Đà Lạt” (Nguyễn Tấn On) lại chọn giọng điệu nhẹ nhàng, tinh tế để khắc họa sức sống, vẻ đẹp và tình yêu với quê hương Lâm Đồng.

Quỳnh Uyển .

Nguồn Lâm Đồng: https://baolamdong.vn/ghi-nhan-tu-cuoc-thi-sang-tac-lam-dong-phat-trien-ben-vung-420678.html