Gặp mẹ
Sau khi bị thương nặng ở gần Thành cổ Quảng Trị, tôi phải bó bột toàn thân, chỉ trừ cổ và hai cánh tay. Các lực lượng chuyển dần tôi ra Bắc. Địch khống chế mạnh các tuyến đường giao thông thuộc phía Nam Quân khu 4, thương binh bị dồn lại ở Viện 112 rất đông. Số thương binh đi được thì tổ chức đi bộ từng tốp, còn thương binh nặng như tôi phải dừng lại khá lâu.

Vào một tối giữa tháng 11 năm 1972, Đội điều trị quyết định dùng 3 chiếc thuyền tam bản có gắn máy rơ-le chở 12 thương binh bất động như tôi vượt sông Nhật Lệ. Thuyền của tôi đi đầu, trên thuyền có anh Phận quê Thừa Thiên, anh Chính quê Thanh Hóa, cô Hoa quê Nghệ An và tôi.
Ra đến giữa sông thì địch phát hiện. Chúng cho máy bay thả hàng trăm đèn pháo sáng, tăng cường phản lực bắn đạn 20 ly, rocket và ném bom, kết hợp với pháo hạm bắn vào từ hạm đội. Thuyền thứ hai có một thương binh quê Thái Bình bị viên bi bắn vào động mạch, máu chảy ra quá nhiều trong bột, anh đã tắt thở ngay trên thuyền. Thuyền thứ ba bị vướng thủy lôi phát nổ, tất cả thương binh, y tá và lái thuyền đều hy sinh. Sau những giờ phút kinh hoàng ấy, thuyền của tôi cuối cùng cũng dạt được vào bờ phía Bắc an toàn.
Tờ mờ sáng, tôi thấy bộ đội, thanh niên xung phong và dân quân sắp xếp, rồi thay phiên nhau cáng chúng tôi đến Trạm chuyển thương 9 (CT9), thuộc xã Kỳ Tây, huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh. Ngay ở địa phương này, cách đó vài ngày cũng bị B-52 rải thảm, cây cối xơ xác, đất đá bới tung. Nhưng chúng tôi vẫn phải ở đó hai ngày.
Đến chiều ngày thứ ba, đồng chí y sĩ chuyển thương thông báo: tối nay số thương binh nặng được tiếp tục chuyển bằng ô tô ra CT10. Tôi không biết CT10 ở đâu nhưng nghe nói được ra Bắc bằng ô tô thì mừng lắm. Mừng vì 135 ngày qua, từ lúc bị thương, tôi đã làm bao nhiêu người phục vụ vất vả, đầy nguy hiểm. Đã có những người phải hy sinh để giành sự sống cho chúng tôi — những thương binh đang đau đớn.
Sáu giờ tối, xe nổ máy xuất phát. Trời có trăng. Lái xe rất cẩn thận tránh những ổ trâu, ổ gà do bom Mỹ đào bới làm xe nghiêng dồn, xóc nảy. Các vết thương va chạm đau đớn. Đoàn xe vẫn rì rầm trong đêm.
Bốn giờ sáng, xe đến CT10 đúng kế hoạch và dừng lại dưới những bờ tre, lùm cây. Tôi nằm ngửa mở mắt quan sát xung quanh, thấy nơi đây giống quê mình quá. Dân quân địa phương lặng lẽ đứng thành từng tốp, dùng đòn tre đã buộc võng vải nhẹ nhàng khiêng từng thương binh vào trạm.
Đến lượt tôi, phía trước là một người đàn ông, phía sau là một phụ nữ. Đi được chừng 10 mét, tôi cất tiếng hỏi nhẹ nhàng: — Đây là địa phương nào hả chị?
Người phụ nữ vừa nghe tiếng tôi hỏi dứt lời liền thốt lên:
— Ngọc phải không con?
Tôi bàng hoàng vội trả lời:
— Không phải... ầm ừ...
Chả là tôi đang cố tình giấu, không muốn người thân biết mình bị thương nặng. Tôi bất ngờ và lúng túng. Nhưng đúng là mẹ tôi rồi! Tôi xa mẹ đã 5 năm, chưa một lần gặp lại. Nay đang đau đớn, âm thanh phát ra yếu ớt, hụt hẫng, nhưng linh cảm tình mẫu tử đã khiến mẹ nhận ra tôi qua giọng nói.
Người đàn ông đi phía trước chính là anh Thái, Bí thư Chi bộ từng tiễn tôi lúc nhập ngũ. Hai người nhẹ nhàng đặt võng xuống đất. Anh Thái soi đèn phòng không vào mặt tôi, mẹ nhìn kỹ tôi rồi run run hồi hộp:
— Đúng rồi! Thằng Ngọc! Con ơi, mẹ đây mà con! Trời ơi, sao con tôi lại thế này?
Rồi mẹ khóc to hơn, nói cho mọi người cùng nghe:
— Bà con ơi, thằng Ngọc! Con tôi đây rồi!
Bạn Hòe — cô gái thân thương cùng làng — đã thay mẹ cùng anh Thái nâng võng đưa tôi vào trạm chuyển thương đóng trong sân kho hợp tác. Mẹ bịn rịn, lật đật đi bên võng. Đến trạm, y tá cùng mẹ đỡ tôi xuống phản. Tôi thấy cô y tá cứ ngơ ngác nhìn mẹ.
Sau đó, anh Thái cho tôi biết, trong số thương binh ra trước có người thông báo xã này có anh Ngọc cũng bị thương ra sau. Nghe vậy, mẹ cứ đòi đi trực thay em gái để đón tôi. Đến 10 giờ sáng hôm đó, em gái, cậu tôi cùng bà con đến trạm thăm rất đông, mang theo đủ thứ quà từ cam đến trứng...
Tối hôm sau, lẽ ra tôi phải chuyển tiếp ra Bắc, mẹ và cậu cứ xin trạm cho tôi ở lại ít ngày. Nhưng vì vết thương rò rỉ dịch và máu thấm qua bột gây mùi khó chịu, bác sĩ cũng giải thích rõ tình trạng thương tật cho mẹ nghe. Vậy là về đến quê hương, tôi gặp mẹ chỉ dừng lại được 2 ngày. Mẹ muốn xin đi theo để chăm sóc con trai duy nhất, nhưng còn bao việc liên quan trong lúc cả nước đang chiến tranh. Khi xe nổ máy chuẩn bị xuất phát, mẹ nói nhỏ đủ cho tôi nghe:
— Ra chữa cho lành rồi về sống với mẹ!
Đến ngày thống nhất non sông, các vết thương trên cơ thể tôi đã liền sẹo. Sau thời gian an dưỡng qua nhiều trạm trại thương binh, Hội đồng Giám định Y khoa Trung ương xác định tôi mất 81% sức lao động vĩnh viễn. Tôi buồn vì không còn được tiếp tục chiến đấu, công tác cùng đồng đội, nhưng được trở về sống bên mẹ và quê hương, trong độc lập – tự do.
Tôi luôn ghi nhớ những người đã cứu giúp, cưu mang để mình được sống sót, và biết ơn đồng bào, đồng chí suốt cả cuộc đời.

