Đường băng mới cho gỗ Việt
Với kim ngạch xuất khẩu khoảng 17 tỷ USD mỗi năm, ngành gỗ Việt Nam đang đứng trước yêu cầu nâng cao giá trị và phát triển bền vững.

Công nhân nhà máy gỗ chuẩn bị nguồn hàng xuất khẩu. Ảnh: Hồng Nhung - TTXVN
Với kim ngạch xuất khẩu khoảng 17 tỷ USD mỗi năm, ngành gỗ Việt Nam đang đứng trước yêu cầu nâng cao giá trị và phát triển bền vững. Phát triển vùng nguyên liệu, đẩy mạnh chế biến sâu, mở rộng thị trường và khai thác giá trị carbon sẽ tạo thêm dư địa tăng trưởng, góp phần vào mục tiêu tăng trưởng kinh tế 2 con số từ năm 2026.
Ông Phùng Quốc Mẫn, Chủ tịch Hội Mỹ nghệ và Chế biến gỗ Thành phố Hồ Chí Minh (HAWA) cho rằng, thành công về xuất khẩu chưa đồng nghĩa với phát triển bền vững. Khoảng cách giữa phát triển vùng nguyên liệu, chế biến, sinh kế của người trồng rừng và mục tiêu giảm phát thải vẫn còn khá lớn. Vì vậy, vấn đề quan trọng hiện nay không đơn thuần là mở rộng diện tích rừng trồng mà phải tìm được mô hình liên kết bền vững, hài hòa lợi ích giữa doanh nghiệp, người dân và chính quyền địa phương.
Theo ông Phùng Quốc Mẫn, nếu được quản lý phù hợp, vùng nguyên liệu không chỉ bảo đảm nguồn cung cho chế biến mà còn góp phần hấp thụ carbon, giảm phát thải và mở ra cơ hội tham gia thị trường carbon. Đây là hướng đi có thể tạo thêm giá trị cho rừng trồng, đồng thời giúp ngành gỗ đáp ứng các yêu cầu ngày càng cao về sản xuất xanh của thị trường quốc tế.
TS. Tô Xuân Phúc, chuyên gia Forest Trends cho biết, Việt Nam hiện có khoảng 4,9 triệu ha rừng trồng; trong đó khoảng 4,1 triệu ha là rừng sản xuất. Đến tháng 5/2026, cả nước có khoảng 880.000 ha rừng được cấp chứng chỉ rừng bền vững FSC hoặc PEFC, tạo nền tảng quan trọng cho phát triển nguồn nguyên liệu hợp pháp và bền vững.
Tuy nhiên, nguồn cung nguyên liệu vẫn còn nhiều bất cập. Diện tích rừng gỗ lớn hạn chế, liên kết giữa người trồng rừng và doanh nghiệp còn lỏng lẻo, trong khi quy hoạch cơ sở chế biến tại một số địa phương chưa gắn chặt với quy hoạch vùng nguyên liệu. Tổng nhu cầu nguyên liệu đầu vào của các ngành đồ gỗ, ván nhân tạo, viên nén và dăm gỗ hiện khoảng 59 triệu m3 mỗi năm, cho thấy vai trò đặc biệt quan trọng của rừng trồng trong chuỗi giá trị ngành gỗ.
Theo ông Tô Xuân Phúc, sau hơn 20 năm phát triển rừng gỗ lớn, kết quả vẫn chưa đạt kỳ vọng do nhu cầu thị trường chưa đủ lớn, hiệu quả kinh tế chưa tạo động lực để người dân kéo dài chu kỳ trồng rừng và thiếu doanh nghiệp chế biến sâu tại vùng nguyên liệu. Vì vậy, phát triển rừng gỗ lớn phải xuất phát từ nhu cầu thị trường và được gắn với quy hoạch chế biến phù hợp từng vùng.

Trồng rừng gỗ lớn vẫn gặp nhiều khó khăn, kết quả chưa đạt được như kỳ vòng. Ảnh minh họa: Phạm Kha – TTXVN
Ông Trần Lam Sơn, Phó Chủ tịch HĐTV, Phó Tổng Giám đốc Công ty TNHH SX TM XNK Thiên Minh cho rằng, mỗi địa phương có lợi thế riêng nên cần định hướng phát triển vùng nguyên liệu phù hợp. Chẳng hạn, Cà Mau có năng suất keo cao, thuận lợi phát triển nguyên liệu cho sản xuất sinh khối; trong khi Đồng Tháp, An Giang và Tây Ninh có điều kiện phát triển rừng gỗ lớn phục vụ chế biến sâu. Khó khăn hiện nay là chưa hình thành được cơ chế bao tiêu và liên kết ổn định giữa doanh nghiệp với người trồng rừng.
Theo ông Nguyễn Hữu Thông, Tổng Giám đốc Công ty TNHH MTV Gỗ Hoàng Thông, rừng phục vụ dăm gỗ, viên nén có thể khai thác sau khoảng 5 năm, trong khi rừng gỗ lớn cần 7-10 năm hoặc lâu hơn. Do đó, cần quy hoạch vùng nguyên liệu ngay từ bây giờ, đồng thời xây dựng cơ sở dữ liệu về diện tích, cơ cấu cây trồng, tuổi rừng và sản lượng để doanh nghiệp chủ động đầu tư.
Các doanh nghiệp cho rằng cần phân bổ nguyên liệu theo “tầng giá trị”; trong đó gỗ lớn ưu tiên cho chế biến sâu thay vì các sản phẩm có giá trị thấp. Nếu kéo dài chu kỳ trồng rừng lên khoảng 10-12 năm, lợi nhuận của người trồng rừng có thể cao gấp khoảng 2,5 lần so với khai thác gỗ non. Đây là cơ sở để tạo động lực kinh tế cho người dân chuyển sang phát triển rừng gỗ lớn, nếu có cơ chế liên kết và bao tiêu phù hợp.
Bên cạnh xuất khẩu, thị trường nội địa cũng cần được xem là một động lực quan trọng để nâng giá trị ngành gỗ. Một số doanh nghiệp đã sử dụng gỗ rừng trồng trong nước để sản xuất sản phẩm chất lượng cao, thân thiện môi trường phục vụ người tiêu dùng trong nước, qua đó tạo thêm đầu ra cho gỗ nguyên liệu và cải thiện thu nhập cho người trồng rừng.
Tại một số làng nghề, nguồn nguyên liệu cũng đang chuyển từ các loại gỗ rủi ro nhập khẩu sang gỗ rừng trồng trong nước như gỗ ghép, ván. Sự chuyển đổi này giúp giảm khoảng 90% lượng gỗ rủi ro nhập khẩu là gỗ rừng tự nhiên từng được sử dụng phổ biến, đồng thời góp phần giảm giá thành sản phẩm.
Ông Phùng Quốc Mẫn nhấn mạnh, thị trường nội địa không phải phương án dự phòng khi xuất khẩu gặp khó khăn mà cần được xác định là một trong hai trụ cột chiến lược của ngành gỗ và nội thất Việt Nam, song hành với xuất khẩu.
Ông Vũ Hải Bằng, Tổng Giám đốc Công ty cổ phần Woodsland cho rằng, giá trị thị trường nội địa không chỉ nằm ở sản xuất mà còn ở thiết kế, phân phối, lắp đặt và dịch vụ sau bán hàng. Đây là những khâu có giá trị gia tăng cao, tạo thêm việc làm và dư địa phát triển cho doanh nghiệp Việt Nam.
Trong bối cảnh yêu cầu về sản xuất xanh, truy xuất nguồn gốc và giảm phát thải ngày càng trở thành điều kiện quan trọng của thương mại quốc tế, ngành gỗ cần một chiến lược phát triển tổng thể. Ở đó, vùng nguyên liệu là nền tảng, chế biến sâu là động lực, xuất khẩu và thị trường nội địa là hai trụ cột, còn tín chỉ carbon mở thêm nguồn giá trị mới.
Khi vùng nguyên liệu được quy hoạch theo nhu cầu thị trường, liên kết giữa doanh nghiệp, người trồng rừng và địa phương được củng cố, ngành gỗ sẽ có nền tảng vững chắc để phát triển. Gỗ lớn được ưu tiên cho chế biến sâu, đồng thời giá trị carbon được tích hợp vào sản xuất sẽ góp phần nâng cao giá trị gia tăng, sức cạnh tranh và khả năng đáp ứng các tiêu chuẩn quốc tế. Từ đó, ngành gỗ không chỉ củng cố vị thế xuất khẩu mà còn tạo thêm việc làm, nâng thu nhập cho người trồng rừng.

