Đừng để văn hóa đứng sau dòng vốn
Chín tháng năm 2026, cả nước giải ngân 642.961,6 tỉ đồng vốn đầu tư công, đạt 62,9% kế hoạch Thủ tướng Chính phủ giao. Nếu loại phần vốn tiết kiệm dự kiến dành cho đường sắt, tỷ lệ là 64,8%. Kết quả được dẫn từ báo cáo Bộ Tài chính cho thấy sự tăng tốc, đồng thời đặt ra yêu cầu trong những tháng cuối năm. Nhưng nhìn từ văn hóa, điều đáng bàn không chỉ là bao nhiêu tiền đã được chi, mà còn là những giá trị nào đang được tạo dựng.
Sau 9 tháng, tỷ lệ giải ngân riêng của ngành văn hóa chưa có con số thống kê đầy đủ nên không thể suy diễn ngành này chậm hay nhanh từ mức bình quân chung. Tuy nhiên, câu chuyện đầu tư công đặt ra một vấn đề: văn hóa được nhìn nhận thế nào trong lựa chọn ưu tiên và tổ chức thực hiện? Nếu văn hóa được xác định là nền tảng tinh thần, nguồn lực nội sinh của phát triển, thì trách nhiệm đầu tư phải tương xứng. Không thể đề cao văn hóa trong diễn văn nhưng để nhiệm vụ văn hóa chờ đợi.
Nghị quyết 162/2024/QH15 phê duyệt chủ trương đầu tư Chương trình mục tiêu quốc gia về phát triển văn hóa giai đoạn 2025- 2035 đã mở ra cơ hội lớn. Tổng nguồn vốn thực hiện giai đoạn 2025-2030 tối thiểu 122.250 tỉ đồng, trong đó ngân sách trung ương bố trí 50.000 tỉ đồng vốn đầu tư phát triển và 27.000 tỉ đồng vốn sự nghiệp. Đây là tổng nguồn lực chương trình, không phải toàn bộ vốn xây dựng. Sự phân biệt ấy nhắc rằng phát triển văn hóa cần đồng thời công trình, con người, hoạt động và nội dung.
Có nguồn lực là điều kiện, nhưng chưa phải bảo đảm thành công. Thách thức nằm ở việc chuyển ưu tiên chính sách thành năng lực thực thi. Một dự án kéo dài không chỉ làm tăng chi phí; với di sản, đó có thể là thêm một mùa xuống cấp, thêm một phần ký ức mất đi. Với thiết chế cơ sở, đó là thời gian người dân tiếp tục thiếu nơi đọc sách, sinh hoạt, sáng tạo. Vốn chậm chuyển thành giá trị cũng có nghĩa cơ hội phát triển con người bị chậm lại.
Vì vậy, phải thay đổi cách nhìn về hiệu quả đầu tư văn hóa. Đường sá có thể đo bằng chiều dài, công suất; văn hóa cần những thước đo phù hợp với mục tiêu phục vụ con người. Một nhà văn hóa hoàn thành nhưng đóng cửa phần lớn thời gian chưa thể coi là thành công. Một bảo tàng được xây dựng tốn kém nhưng thiếu nội dung, thiếu người xem cũng vậy. Điều cần chất vấn là người dân được hưởng gì, cộng đồng thay đổi thế nào, giá trị nào được bảo vệ và lan tỏa.
Đây cũng là lúc phải vượt qua tư duy coi đầu tư văn hóa chủ yếu là xây dựng. Di sản cần bảo tồn, nghệ nhân cần truyền nghề, nghệ sĩ cần không gian sáng tạo, thư viện cần tài nguyên và dịch vụ. Những nhu cầu ấy liên quan nhiều nguồn kinh phí, phải được phân định và phối hợp đúng chức năng. Không thể dùng một công trình lớn để thay thế cả hệ sinh thái văn hóa; càng không thể xây xong rồi mới tìm người vận hành, nội dung hoạt động và ngân sách duy trì.
Muốn khắc phục, cần bắt đầu từ khâu lựa chọn dự án. Đầu tư phải xuất phát từ khoảng trống dịch vụ, nguy cơ mất mát di sản và nhu cầu thực tế, thay vì khả năng đề xuất một danh mục đẹp. Ưu tiên cần dành cho nhiệm vụ cấp thiết, có căn cứ khoa học, có phương án vận hành và khả năng phục vụ rõ ràng. Những địa bàn khó khăn, cộng đồng ít cơ hội tiếp cận văn hóa phải được chú ý. Công bằng trong thụ hưởng là tiêu chí quan trọng của phát triển.
Trong bảo tồn, yêu cầu tăng tốc càng phải đi cùng kỷ luật chuyên môn. UNESCO ghi nhận việc tu bổ di tích Huế sử dụng kỹ thuật, vật liệu truyền thống theo chuẩn mực quốc tế để duy trì tính xác thực. Bài học có ý nghĩa vượt khỏi một địa phương là, tiền có thể bổ sung, nhưng dấu tích gốc bị hủy hoại khó phục hồi. Chạy theo tỷ lệ giải ngân bằng làm mới di tích, đơn giản hóa nghiên cứu hay lựa chọn nhà thầu thiếu năng lực sẽ biến nguồn lực bảo tồn thành nguy cơ tổn hại.
Tuy nhiên, thận trọng khoa học không đồng nghĩa chấp nhận trì trệ hành chính. Cần tách rõ thời gian nghiên cứu cần thiết với sự chậm trễ do hồ sơ yếu, phối hợp kém, đùn đẩy hoặc sợ trách nhiệm. Mỗi dự án phải chỉ rõ vướng ở đâu, ai giải quyết, khi nào hoàn thành. Người đứng đầu phải chịu trách nhiệm cả về tiến độ lẫn chất lượng. Không thể để một cuộc họp kết thúc bằng yêu cầu chung chung, rồi cuộc họp sau lại nghe cùng những khó khăn chưa được xử lý.
Giám sát cũng phải theo đến lúc công trình hoạt động. Bên cạnh tỷ lệ thanh toán, cần công khai tiến độ, chất lượng, chi phí vận hành, mức độ sử dụng và phản hồi cộng đồng. Báo chí cần đặt câu hỏi về hiệu quả thực tế, không chỉphản ánh lễ khởi công, khánh thành. Người dân phải có cơ hội góp ý về nhu cầu, cách sử dụng và khả năng tiếp cận thiết chế. Sự tham gia ấy giúp đồng vốn bám sát đời sống.
Áp lực giải ngân cuối năm là phép thử trách nhiệm, nhưng đầu tư văn hóa cần tầm nhìn dài hạn. Đất nước không thể phát triển bền vững nếu hạ tầng vật chất tiến nhanh mà đời sống tinh thần tụt lại. Đưa vốn đến đúng nhiệm vụ, biến công trình thành hoạt động, biến chính sách thành quyền thụ hưởng: đó mới là cách khẳng định văn hóa được đặt ở vị trí xứng đáng.
