Đưa hơi thở cuộc sống vào phiên giải trình
Đầu tháng Tư, những trang tài liệu chuẩn bị cho phiên giải trình quý II/2026 được đặt lên bàn thảo luận của Thường trực HĐND tỉnh, nội dung kỳ này sẽ chọn vấn đề gì để giải trình cho trúng, cho đúng, cho thật gần với đời sống Nhân dân và gắn với trách nhiệm quản lý nhà nước, với những tồn tại cần được làm rõ, những giải pháp cần được xác định cụ thể và lộ trình khắc phục? Từ cách tiếp cận đó, 3 nội dung đã được lựa chọn: công tác quản lý cây xanh đô thị và thu gom, vận chuyển, xử lý rác thải sinh hoạt trên địa bàn 4 phường: Kỳ Lừa, Đông Kinh, Tam Thanh, Lương Văn Tri; việc quản lý vận hành công trình cấp nước sinh hoạt xã Tân Văn.

Phiên họp Thường trực HĐND tỉnh tháng 4/2026
Tinh thần Chỉ thị số 53, ngày 26/10/2025 của Bộ Chính trị về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với việc thực hiện trách nhiệm giải trình của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong hoạt động công vụ như một lời nhắc đúng lúc: giải trình không phải là việc làm hình thức, mà là yêu cầu của kỷ luật, kỷ cương, của công khai, minh bạch, của phòng chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực. Giải trình để quyền lực công được kiểm soát tốt hơn, để trách nhiệm không bị hòa tan trong tập thể. Những vấn đề chỉ khi được đưa ra ánh sáng của giải trình, trách nhiệm sẽ không còn mờ đi trong những tập hồ sơ.
Khi cây xanh đô thị được đặt lên bàn giải trình
Bắt tay vào nhiệm vụ được Thường trực HĐND tỉnh giao, Ban Kinh tế - Ngân sách HĐND tỉnh xác định: muốn tổ chức một phiên giải trình có chất lượng, trước hết phải làm rõ được vấn đề cần giải trình. Cây xanh đô thị không phải là nội dung xa lạ, nhưng dưới góc độ quản lý nhà nước, đây lại là lĩnh vực chưa được đánh giá, soi chiếu và chưa được quan tâm đầy đủ so với yêu cầu của thực tiễn.
Bức tranh về cây xanh đô thị được hiện lên với những nét phác thảo đơn giản, thông tin còn rời rạc, thiếu thống nhất do dữ liệu cung cấp từ cơ quan quản lý nhà nước còn sơ sài, chưa đồng bộ.
Trên cơ sở yêu cầu nhiệm vụ và những vấn đề bước đầu được nghiên cứu từ thực tiễn quản lý, kế hoạch giải trình dần được định hình. Đề cương yêu cầu báo cáo được xây dựng theo hướng đề nghị làm rõ từng nhiệm vụ của cơ quan quản lý, xác định làm rõ trách nhiệm trong từng cấp, từng đơn vị: công tác tham mưu, hướng dẫn, quản lý cho đến công tác chăm sóc, kiểm tra, nghiệm thu, duy trì và phát triển hệ thống cây xanh.
Khi các báo cáo được gửi về, những mảng xanh trong bản phác thảo ban đầu dần hiện lên rõ hơn. Trước mắt chúng tôi bắt đầu hiện ra những hàng cây đang được quản lý, chăm sóc hằng ngày ở từng tuyến phố, từng công viên, từng thảm cỏ, từng dải phân cách, khu đảo giao thông trên địa bàn 4 phường.
Số liệu tổng hợp cho thấy, trên địa bàn 4 phường có khoảng 14.992 cây xanh, 67.976 m² thảm cỏ, 7.823 cây chậu, 5.849 cây tạo hình. Trong đó có 9.218 cây đường phố, 1.943 cây ăn quả, chiếm khoảng 21%. Việc thực hiện đánh số cây đường phố mới thực hiện được đối với 3.245 cây trên 51 tuyến phố, đạt khoảng 35,2%.
Nếu chỉ nhìn trên giấy, những con số ấy có thể tạo cảm giác bức tranh cây xanh đô thị đã khá đầy đủ. Nhưng với hoạt động giám sát, số liệu chưa bao giờ là điểm dừng, mà là điểm bắt đầu để làm cơ sở đánh giá với thực tế.
Từ bảng tổng hợp, chúng tôi đi khảo sát từng tuyến phố, từng khuôn viên, từng thảm cỏ, bồn hoa, từng hàng cây mới trồng để đối chiếu giữa hồ sơ và thực địa. Cây có trong danh mục được quản lý ra sao? Cây mới trồng sinh trưởng thế nào? Cây cần bảo tồn đã có hồ sơ, biển báo, hàng rào bảo vệ chưa? Vị trí trồng cây mới có phù hợp không, có đảm bảo chất lượng, yêu cầu kỹ thuật hay không? Khối lượng chăm sóc, duy trì có sát với thực tế hay chỉ dừng lại ở nghiệm thu trên giấy?
Qua khảo sát, những hạn chế, bất cập trong công tác quản lý cây xanh được xác định: một số vị trí trồng chưa đảm bảo kỹ thuật và yêu cầu về bảo vệ hành lang an toàn giao thông, việc xây dựng kế hoạch phát triển cây xanh hằng năm và giai đoạn 5 năm chưa được thực hiện đầy đủ; hồ sơ, cơ sở dữ liệu, đánh số và theo dõi biến động cây xanh còn chưa đồng bộ; chất lượng chăm sóc giữa các khu vực chưa đồng đều; một số chủng loại, vị trí trồng chưa phù hợp, cây trồng mới sinh trưởng kém, cây cần bảo tồn chưa được quản lý chặt chẽ. Cùng với đó, công tác lập dự toán, nghiệm thu, thanh toán khối lượng duy trì cây xanh còn nội dung cần rà soát; công tác thanh tra, kiểm tra chuyên đề chưa được thực hiện kịp thời, đặt ra yêu cầu phải đánh giá trách nhiệm quản lý nhà nước trong lĩnh vực này.


Hình ảnh cây xanh trên tuyến phố, công viên
Từ những nội dung được ghi nhận qua hồ sơ và khảo sát, nội dung cần được giải trình đi thẳng vào những vấn đề cụ thể: vì sao kế hoạch phát triển cây xanh chưa được xây dựng đầy đủ; vì sao việc đánh số, lập hồ sơ, cập nhật dữ liệu cây xanh còn chậm; vì sao một số cây trồng mới sinh trưởng kém, cây chết nhưng chưa được theo dõi, xử lý kịp thời; vì sao có cây chưa phù hợp về chủng loại, vị trí trồng nhưng chưa được rà soát, thay thế; trách nhiệm kiểm tra, nghiệm thu, thanh toán khối lượng duy trì cây xanh được thực hiện đến đâu…
Những câu hỏi ấy nhằm kéo trách nhiệm quản lý về đúng địa chỉ, để sau phiên giải trình không chỉ còn lại những cụm từ quen thuộc như “sẽ tiếp tục quan tâm”, “sẽ tăng cường phối hợp”, “sẽ rà soát trong thời gian tới”. Cử tri cần nhiều hơn thế. Cơ quan dân cử cũng cần nhiều hơn thế. Cần biết việc nào sẽ làm trước, cơ quan nào chủ trì, thời hạn nào hoàn thành, nội dung nào phải khắc phục. Nội dung giải trình vì thế đã dần rõ hơn, có căn cứ hơn và được đặt ra với yêu cầu cụ thể hơn tại phiên giải trình.
Từ những hàng cây trên phố, hành trình khảo sát tiếp tục mở sang một vấn đề khác cũng hiện hữu từng ngày trong đời sống đô thị là rác thải sinh hoạt.
Vấn đề xử lý rác thải sinh hoạt
Rời những hàng cây xanh trên phố, hành trình khảo sát tiếp nối tới một nội dung khác của đời sống đô thị: rác thải sinh hoạt.
Khi hồ sơ, báo cáo được tổng hợp, những số liệu về phạm vi thu gom, tần suất vận chuyển, khối lượng dịch vụ, kinh phí thực hiện được đánh giá cùng hồ sơ về hợp đồng cung ứng dịch vụ công ích. Chúng tôi bắt đầu hành trình khảo sát từ tờ mờ sáng, khi mặt trời chưa ló rạng, phố xá vẫn thưa người.
Theo hồ sơ, ca sáng từ 2 giờ đến 6 giờ đối với các tuyến trục chính, ca chiều từ 15 giờ đến 23 giờ đối với khu dân cư, khu vực chợ. Tại phường Kỳ Lừa, rác được thu gom trên 82/89 tuyến đường, đạt khoảng 92,1%; phường Lương Văn Tri, việc thu gom được thực hiện trên hơn 40 tuyến đường, tuyến phố và ngõ, ngách, tỷ lệ thu gom đạt khoảng 98%; phường Tam Thanh, việc quét dọn được duy trì trên 15,87 km đường phố chính, thu gom rác sinh hoạt trên khoảng 24,34 km đường khu dân cư; phường Đông Kinh, công tác thu gom, vận chuyển rác thải sinh hoạt cũng được duy trì trên các tuyến đường, khu dân cư, khu vực công cộng, nhất là những nơi có mật độ dân cư, hoạt động kinh doanh, dịch vụ cao.
Những con số ấy cho thấy công tác thu gom, vận chuyển rác thải sinh hoạt đã được duy trì thường xuyên, góp phần giữ gìn vệ sinh môi trường đô thị. Nhưng cũng như với cây xanh, số liệu chưa phải là điểm dừng. Từ hồ sơ, chúng tôi đi đến các tuyến phố, khu dân cư, điểm tập kết rác, khu vực chợ, công viên, nơi thường phát sinh rác tồn lưu để nhìn rõ hơn cách dịch vụ này đang vận hành trong thực tế.
Nhìn từ góc độ quản lý, qua khảo sát đã chỉ ra nhiều nội dung cần làm rõ: phạm vi thu gom chưa bao phủ toàn bộ địa bàn; chất lượng thu gom, vệ sinh môi trường chưa đồng đều; phân loại rác tại nguồn triển khai chậm, chưa hình thành đồng bộ hệ thống phân loại, thu gom, vận chuyển, xử lý; việc bố trí điểm tập kết, thùng chứa rác công cộng còn bất cập; công tác kiểm tra, giám sát chất lượng dịch vụ có nơi chưa thường xuyên, chủ yếu vẫn dựa vào xác nhận khối lượng để làm căn cứ thanh toán.


Hình ảnh rác thải chưa được thu gom trên tuyến phố, công viên
Từ những nội dung được ghi nhận qua hồ sơ và khảo sát, các câu hỏi giải trình dần rõ hơn: trách nhiệm tổ chức thu gom, vận chuyển, xử lý rác thải sinh hoạt thuộc về ai; vì sao vẫn còn tuyến, khu vực chưa được thu gom thường xuyên; việc phân loại rác cần phải triển khai thế nào; chất lượng dịch vụ được kiểm tra, đánh giá bằng tiêu chí nào; những điểm tập kết, thùng rác xuống cấp, chưa phù hợp sẽ được xử lý theo phương án ra sao.
Rác thải sinh hoạt vì thế không còn là câu chuyện về trách nhiệm của riêng cá nhân hay tổ chức. Đây là thước đo rất cụ thể về cách chính quyền tổ chức dịch vụ công, giữ gìn môi trường sống và thực hiện trách nhiệm quản lý ngay từ cơ sở.
Câu chuyện vận hành công trình cấp nước
Hành trình khảo sát tiếp tục đưa chúng tôi rời các phường trung tâm, ngược về xã Tân Văn. Ở đó, một câu chuyện khác được đặt ra: công trình cấp nước sinh hoạt đã đầu tư xong, nhưng dòng nước sạch vẫn chưa thực sự đến được với người dân.
Theo hồ sơ, công trình cấp nước sinh hoạt xã Tân Văn có tổng mức đầu tư trên 30 tỷ đồng, công suất thiết kế khoảng 700 m³/ngày đêm, hệ thống đường ống nước thô, ống truyền tải và ống phân phối kéo dài qua nhiều khu vực. Công trình được kỳ vọng đáp ứng nhu cầu sử dụng nước sinh hoạt cho hơn 700 hộ dân trong khu vực.
Nhưng qua kiến nghị của cử tri và khảo sát thực tế, vấn đề đặt ra không còn nằm ở việc công trình đã hoàn thiện. Điều cần được xác định rõ hơn là công trình sau đầu tư được bàn giao, quản lý, vận hành như thế nào; nhu cầu sử dụng nước của người dân được rà soát ra sao; trách nhiệm của chủ đầu tư, cơ quan quản lý và chính quyền địa phương trong việc đưa công trình vào khai thác đến đâu.
Qua khảo sát, công trình đã hoàn thành gần 3 năm nhưng chưa vận hành. Nhiều hạng mục đã được đầu tư, đường ống đã kéo về khu dân cư, lắp đặt đồng hồ đến từng hộ dân theo khảo sát. Một công trình được đầu tư để phục vụ người dân đứng trước câu hỏi: vì sao hoàn thành rồi nhưng dòng nước sạch vẫn chưa đến được với người dân?

Đoàn khảo sát tại Trường Mầm non xã Tân Văn
Xác định vấn đề còn tồn tại về phương án quản lý vận hành sau đầu tư, bàn giao công trình, quyết toán dự án và tổ chức khai thác tài sản đã hình thành từ ngân sách nhà nước, nội dung giải trình được đề cập tới các vấn đề: trách nhiệm của chủ đầu tư trong bàn giao, quyết toán và hoàn thiện thủ tục sau đầu tư đến đâu; cơ quan nào chịu trách nhiệm xây dựng phương án quản lý, vận hành; vì sao công trình hoàn thành nhưng chậm đưa vào sử dụng; nhu cầu thực tế của người dân hiện nay được rà soát như thế nào; giải pháp nào để công trình được vận hành đúng mục tiêu?
Khi những câu hỏi được đưa lên giải trình
Ngày 17/6/2026, Thường trực HĐND tỉnh Lạng Sơn tổ chức phiên giải trình quý II với sự tham dự của lãnh đạo UBND tỉnh, các sở, ngành, đơn vị, địa phương có liên quan. Những vấn đề đã được khảo sát, đối chiếu từ thực tế được đưa ra trao đổi trực tiếp bằng hình ảnh trực quan cụ thể: quản lý cây xanh đô thị; thu gom, vận chuyển, xử lý rác thải sinh hoạt; quản lý, vận hành công trình cấp nước sạch tại xã Tân Văn.

Phiên Giải trình Quý II/2026
Trong phiên giải trình đó, mỗi câu hỏi không chỉ đi tìm một câu trả lời cho riêng từng vụ việc, từng tuyến phố, từng công trình. Điều được đặt ra rõ hơn là trách nhiệm quản lý nhà nước ở từng khâu: tham mưu, tổ chức thực hiện, kiểm tra, giám sát, nghiệm thu, thanh toán, bàn giao, vận hành và theo dõi, quản lý sau đầu tư.
Qua giám sát cây xanh đô thị, yêu cầu đặt ra là phải rà soát lại kế hoạch phát triển cây xanh, hoàn thiện hồ sơ, dữ liệu quản lý, đánh số cây, xử lý cây chưa phù hợp, cây sinh trưởng kém, cây cần bảo tồn và kiểm soát chặt chẽ hơn việc chăm sóc, duy trì. Đối với rác thải sinh hoạt, vấn đề không chỉ là thu gom hằng ngày, mà là phạm vi phục vụ, điểm tập kết, phân loại rác tại nguồn, chất lượng dịch vụ và trách nhiệm kiểm tra của cơ quan quản lý. Còn tại công trình cấp nước xã Tân Văn, câu hỏi tập trung vào hiệu quả sau đầu tư, phương án vận hành, trách nhiệm bàn giao, quản lý tài sản và việc bảo đảm công trình thực sự phục vụ người dân.
Câu trả lời vì thế không thể dừng ở nhận trách nhiệm chung, mà phải trở thành cam kết cụ thể để Thường trực HĐND tỉnh, các ban HĐND tỉnh và cử tri tiếp tục theo dõi, giám sát. Ngày 1/7/2026, Thường trực HĐND tỉnh ban hành Thông báo Kết luận số 1120 tại Phiên chất vấn, giải trình quý II năm 2026, kiến nghị UBND chỉ đạo, triển khai thực hiện 14 nội dung thuộc 3 nhóm nội dung giải trình gắn với tiến độ thực hiện.
Với đại biểu dân cử, quá trình kiểm tra hồ sơ, khảo sát thực tế, đối chiếu từng con số, từng hình ảnh không chỉ giúp nhìn rõ hơn bản chất của vấn đề, mà còn là một lần tự nhắc mình về trách nhiệm đối với nhiệm vụ được giao. Mỗi cuộc khảo sát, mỗi câu hỏi đặt ra, mỗi nội dung được làm rõ đều trở thành kinh nghiệm tích lũy trong hoạt động giám sát: phải đi đến cùng thực tiễn, nắm chắc căn cứ, xác định đúng trọng tâm và tiếp tục theo dõi để những kiến nghị sau giải trình được thực hiện bằng việc làm cụ thể.
Từ bóng cây trên phố, những chuyến xe rác đi trong sương sớm đến dòng nước sạch ở xã Tân Văn, mỗi câu chuyện đều để lại một dấu ấn riêng trong hành trình giám sát. Ở đó, đại biểu dân cử không chỉ nhìn thấy những việc cần hỏi, mà còn thấy rõ hơn trách nhiệm phải đi đến cùng sau mỗi câu hỏi. Để tinh thần Chỉ thị số 53 của Bộ Chính trị không dừng lại trong văn bản hay trong một phiên giải trình, mà được tiếp nối bằng những chuyển động cụ thể trong quản lý, bằng sự rõ ràng hơn về trách nhiệm và bằng những đổi thay mà Nhân dân có thể cảm nhận trong đời sống hằng ngày.





























