Du lịch - mạch dẫn văn hóa
Nếu Nghị quyết số 80-NQ/TW đặt văn hóa vào vị trí nền tảng, nguồn lực nội sinh, động lực và hệ điều tiết của phát triển đất nước, thì Nghị quyết số 26-NQ/TW mở ra không gian để những giá trị văn hóa ấy chuyển hóa thành sản phẩm, sinh kế và sức cạnh tranh; theo đó, du lịch không chỉ “tiêu dùng” văn hóa, mà có thể trở thành mạch dẫn đưa văn hóa vào đời sống đương đại, tạo sinh kế cho người dân và động lực phát triển cộng đồng.
Sự giao thoa giữa Nghị quyết 80 và Nghị quyết 26
Nghị quyết số 80-NQ/TW về phát triển văn hóa Việt Nam đã xác lập bước tiến quan trọng. Theo đó, văn hóa không chỉ là nền tảng tinh thần mà còn là nguồn lực nội sinh, động lực to lớn, trụ cột và hệ điều tiết cho phát triển nhanh, bền vững đất nước, thấm sâu vào mọi lĩnh vực đời sống, kể cả kinh tế và không gian số. Điểm đột phá là đưa văn hóa ra khỏi cách tiếp cận thuần túy “bảo tồn” để nhìn nhận như một nguồn lực phát triển với mục tiêu đến năm 2030, công nghiệp văn hóa được định hướng đóng góp khoảng 7% GDP, đến năm 2045 khoảng 9% GDP. Du lịch văn hóa được xác định trong nhóm lĩnh vực có tiềm năng hình thành thương hiệu quốc gia, gắn với cam kết bố trí tối thiểu 2% tổng chi ngân sách nhà nước hằng năm cho văn hóa.

Văn hóa được xác định là nền tảng cốt lõi, bản sắc và chất lượng trải nghiệm làm lợi thế cạnh tranh của du lịch Việt Nam. Ảnh: Đình Hoàng
Tiếp nối, Nghị quyết số 26-NQ/TW đưa nguồn lực văn hóa vào một hệ sinh thái kinh tế có khả năng tạo giá trị và lan tỏa. Nghị quyết 26 xác định du lịch là ngành kinh tế tổng hợp, liên ngành, liên vùng, xã hội hóa cao; không chỉ tạo việc làm, thúc đẩy tiêu dùng mà còn bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa, nâng cao sức mạnh mềm quốc gia, đồng thời chuyển mạnh từ phát triển dựa vào số lượng sang chất lượng, giá trị gia tăng, xanh và bền vững. Đó là sự gặp nhau về tư duy giữa hai Nghị quyết với trọng tâm văn hóa tạo chiều sâu, bản sắc; du lịch tạo dòng chảy kinh tế để giá trị văn hóa lan tỏa.
Nghị quyết 26 xác định “lấy văn hóa làm nền tảng cốt lõi, bản sắc và chất lượng trải nghiệm làm lợi thế cạnh tranh” của du lịch Việt Nam. Đây là cách tiếp cận quan niệm về lợi thế cạnh tranh quốc gia. Hạ tầng có thể đầu tư, công nghệ có thể mua, nhưng chiều sâu văn hóa của một vùng đất là thứ tích luỹ qua lịch sử, được cộng đồng trao truyền qua nhiều thế hệ. Một làng nghề, một lễ hội, một món ăn chỉ thực sự trở thành tài sản du lịch khi được kể lại bằng ngôn ngữ của thời đại. Ngược lại, du lịch tạo ra “thị trường” cho văn hóa thể hiện, nghề truyền thống có thêm khách hàng, nghệ nhân có thêm người nghe, ngôi nhà truyền thống trở thành không gian đón khách mà vẫn giữ được hồn cốt. Đó chính là văn hóa bắt đầu tạo ra giá trị kinh tế mà không phải đánh đổi bản sắc.
Đây chính là điểm giao thoa quan trọng: Nghị quyết 80 mở rộng nhận thức về giá trị kinh tế của văn hóa; Nghị quyết 26 đặt du lịch vào vị trí một hệ sinh thái có khả năng chuyển hóa giá trị văn hóa thành sản phẩm, dịch vụ, giá trị gia tăng. Nếu văn hóa là “nguồn vốn”, du lịch chính là “kênh dẫn vốn” để nguồn lực đó quay lại nuôi dưỡng cộng đồng.
Người dân - "chủ thể kinh tế” của di sản
Giá trị lớn nhất của du lịch văn hóa, du lịch cộng đồng không nằm ở số lượng khách, mà ở câu hỏi: người dân được hưởng gì từ dòng khách ấy và họ có thực sự là chủ thể của quá trình phát triển hay không?

Nghệ nhân giới thiệu tinh hoa làng nghề với du khách. Ảnh: Thu Hà
Nghị quyết 26 xác định người dân là chủ thể tham gia và thụ hưởng, yêu cầu bảo đảm điều kiện để doanh nghiệp vừa và nhỏ, cộng đồng dân cư kinh doanh du lịch hiệu quả, hỗ trợ đào tạo kỹ năng cho lao động nông thôn, đồng bào dân tộc thiểu số, người dân vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo để tạo sinh kế bền vững từ du lịch cộng đồng. Đây là chuyển biến quan trọng về tư duy từ du lịch cộng đồng không phải là “đưa khách về làng”, mà là trao quyền kinh tế và quyền tham gia cho cộng đồng.
Khi người dân có thu nhập từ gìn giữ nhà truyền thống, nghề thủ công, ẩm thực hay dịch vụ lưu trú, họ sẽ có thêm động lực bảo vệ chính giá trị làm nên sinh kế của mình. Điều đó minh chứng, di sản không còn là “tài sản phải bảo vệ theo yêu cầu của nhà nước”, mà là vốn sinh kế, căn cước của cộng đồng. Kết quả chính là vòng tuần hoàn tích cực xuất phát từ văn hóa tạo sức hút cho du lịch, du lịch tạo thu nhập cho cộng đồng, cộng đồng quay lại bảo tồn văn hóa, văn hóa được bảo tồn tốt lại tăng sức hấp dẫn của điểm đến.
Biến lợi thế văn hóa thành sức mạnh phát triển
Để Nghị quyết đi vào cuộc sống rất cần một bước chuyển trong tư duy quản trị địa phương. Theo đó, không coi văn hóa và du lịch là hai lĩnh vực song song, mà là hai thành tố của cùng một hệ sinh thái phát triển. Trước hết, cần hoàn thiện thể chế theo hướng tích hợp văn hóa - du lịch - quy hoạch - môi trường - sinh kế cộng đồng, đi kèm cơ chế chia sẻ lợi ích công bằng, để cộng đồng được tham gia quyết định cách khai thác tài sản văn hóa của mình.
Cùng với đó, đầu tư cho nguồn nhân lực bản địa, không chỉ làm lễ tân, phục vụ, bán hàng, mà hướng tới kỹ năng quản trị điểm đến, kể chuyện di sản, kinh doanh số và biến chuyển đổi số thành công cụ trao quyền cho cộng đồng, đúng mục tiêu hình thành hệ sinh thái du lịch thông minh mà Nghị quyết 26 đã đặt ra.

Du lịch trở thành dòng chảy đưa văn hóa địa phương đi xa hơn. Ảnh: Sở Du lịch Ninh Bình
Bên cạnh đó, cần thay đổi cách đánh giá thành công của một điểm đến, không phải đón nhiều khách hơn, mà là khách đến nhiều hơn nhưng di sản được bảo vệ tốt hơn, doanh thu tăng nhưng người dân hưởng lợi nhiều hơn, văn hóa quảng bá rộng hơn nhưng bản sắc không bị hòa tan.
Nghị quyết 80 và Nghị quyết 26, xét trong mối quan hệ với nhau, mở ra một cách tiếp cận không đặt văn hóa bên ngoài nền kinh tế, cũng không đặt du lịch bên ngoài văn hóa. Văn hóa cung cấp cho du lịch tài sản quý giá nhất. Du lịch cung cấp cho văn hóa một không gian rộng lớn để được trải nghiệm, giao lưu, định giá và lan tỏa. Nhưng đích đến không phải biến mọi giá trị văn hóa thành hàng hóa, mà là một mô hình trong đó giá trị kinh tế củng cố giá trị văn hóa, còn giá trị văn hóa nâng cao chất lượng tăng trưởng kinh tế.
Trong kỷ nguyên phát triển mới, lợi thế của một địa phương không chỉ nằm ở đất đai, tài nguyên hay vị trí địa lý mà ngày càng nằm ở khả năng nhận diện, bảo tồn, sáng tạo và chuyển hóa những giá trị riêng có thành năng lực cạnh tranh. Câu hỏi quan trọng là địa phương có giá trị văn hóa gì để tạo ra một trải nghiệm không thể thay thế, một sinh kế có thể duy trì và một cộng đồng có thể tự hào? Nếu trả lời được câu hỏi ấy, du lịch sẽ không chỉ đưa du khách đến với văn hóa địa phương mà trở thành dòng chảy đưa văn hóa địa phương đi xa hơn, tạo sinh kế tốt hơn cho người dân và góp phần biến sức mạnh văn hóa thành sức mạnh phát triển của đất nước.
