Đồn Xã Lễ - hoài niệm bi thương
Hơn nửa thế kỷ đã trôi qua, chiến tranh đã lùi xa, nhưng đồn Xã Lễ vẫn còn in đậm trong ký ức người dân Quảng Hậu, Phong Nhị, Phong Nhứt.

Di tích lịch sử cấp tỉnh Cây Da Dù tại khối phố Phong Nhị, phường An Thắng. Ảnh: H.S
Trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, dọc tuyến quốc lộ 1A - con đường huyết mạch nối liền Đà Nẵng với các vùng phía nam - quân địch cho xây dựng một hệ thống đồn bốt dày đặc nhằm kiểm soát, kìm kẹp phong trào cách mạng của ta.
Trên đoạn từ Ngũ Giáp đến Vĩnh Điện, nhiều đồn được dựng lên, trong đó đồn Xã Lễ là một vị trí khá quy mô và có vai trò đặc biệt quan trọng. Người dân địa phương khi ấy vẫn quen gọi nơi này là đồn Kiểm Lu.
Nguồn gốc tên gọi Xã Lễ - Kiểm Lu
Ông Lê Văn Tình, 90 tuổi, người làng Quảng Hậu, cháu gọi ông Xã Lễ bằng bác, kể lại: “Trước đây, bác tôi có thời kỳ làm lý trưởng nên dân làng thường gọi là ông Xã Lễ…”.
Đồn Xã Lễ được lập vào khoảng những năm 1965-1966, thời kỳ Mỹ - chính quyền Sài Gòn đẩy mạnh chiến dịch “bình định nông thôn”.
Vị trí đồn nằm trên khu vườn của ông Lê Văn Lễ, phía đông quốc lộ 1A, thuộc làng Quảng Hậu, xã Thanh Minh xưa; nay là khối phố Quảng Hậu, phường Điện Bàn Đông. Khu vực này có diện tích hơn một mẫu đất, hiện ở cạnh phía bắc cây xăng Hòa Mỹ.
Tên gọi Kiểm Lu bắt nguồn từ ông Nguyễn Văn Lu, người gốc Huế, lấy vợ làng Phong Nhị, phường An Thắng. Ông làm nghề rèn gần cây bồ đề trên tuyến đường tránh hiện nay.
Thời Pháp thuộc, tại đây từng có một “xích hậu” - trạm gác nhỏ của làng. Ông Lu được chính quyền cử làm Hương Kiểm, phụ trách tuần phòng, nên dân gian quen gọi là Kiểm Lu.
Đến năm 1969, chính quyền Sài Gòn cho lập “khu dồn Kiểm Lu”, cưỡng ép dời dân từ các thôn về khu tập trung nhằm cắt đứt mối liên hệ giữa nhân dân và lực lượng cách mạng.
Khu dồn này nằm trong sự kiểm soát chặt chẽ của lực lượng Bình định nông thôn, Phòng vệ dân sự và cảnh sát, vì thế cái tên “Kiểm Lu” trở nên nổi tiếng thời bấy giờ.
Theo lời kể của ông Tống Thú - cán bộ lão thành cách mạng, và ông Trần Văn Tửu, nguyên Bí thư Đảng bộ xã Điện An (1972-1985), nơi đây từng là một điểm nóng trong chiến lược bình định của địch.
Buổi đầu, đồn chỉ có một tiểu đội lính địa phương quân, làm nhiệm vụ canh gác và bảo vệ đoạn quốc lộ 1A nối quận lỵ Điện Bàn với các xã phía bắc, giáp ranh Đà Nẵng.
Nhưng từ năm 1967-1968, chiến sự ngày càng ác liệt, địch tăng quân số lên hơn một trung đội, có cả lính Mỹ và Nam Triều Tiên.
Ngoài việc bảo vệ giao thông, đồn Xã Lễ còn là chốt chặn quan trọng, nhằm chia cắt lực lượng cách mạng, ngăn cán bộ nằm vùng xâm nhập làng xóm, cắt đứt liên lạc giữa vùng đông và vùng tây.
Địch cho xây quanh đồn nhiều lớp hàng rào kẽm gai, lô cốt kiên cố, có ụ đặt súng máy và súng cối để bắn pháo sáng, tấn công từ xa.
Từ đây, một tổ rà mìn được lập để kiểm soát tuyến đường từ đồn vào Vĩnh Điện.
Ban đêm, du kích ta thường bí mật ra quốc lộ đặt mìn đánh xe quân sự. Mỗi sáng, lính Mỹ - lính ngụy Sài Gòn lại phải cho quân rà từng đoạn đường trước khi cho xe qua.
Đoạn từ đồn Ngũ Giáp đến Xã Lễ do bộ phận Ngũ Giáp phụ trách, còn đoạn từ Xã Lễ đến cầu Giáp Ba do lực lượng đồn Xã Lễ đảm nhận.
Thảm sát cây Da dù - vết thương không lành
Đồn Xã Lễ không chỉ là vị trí quân sự mà còn gắn liền với một vụ thảm sát bi thương nhất trong lịch sử Điện Bàn: Vụ thảm sát Phong Nhứt - Phong Nhị, xảy ra tại cây Da Dù vào ngày 14/2/1968.
Trước đó, ngày 13/2/1968, một đơn vị lính Nam Triều Tiên từ Vĩnh Điện tiến lên xóm Lập Nam (Phong Nhị), bị vấp mìn và chịu thương vong.
Chúng lập tức phản kích dữ dội, bắt một số người dân tra khảo. Lợi dụng sơ hở, nhiều người đã trốn thoát.
Sáng hôm sau, quân Nam Triều Tiên huy động cả một đại đội tiến công vào hai làng Phong Nhất và Phong Nhị. Chúng lùa dân ra giữa đồng, ngay dưới gốc cây Da Dù - nơi từng là điểm tụ họp của làng. Không một lời xét hỏi, chúng thẳng tay nã súng, quăng lựu đạn, đốt phá nhà cửa.
74 con người - phần lớn là người già, phụ nữ và trẻ nhỏ - ngã xuống. Có gia đình bị giết sạch, chẳng còn ai sống sót để nhận mặt người thân.
Sau vụ ấy, cả xóm chỉ còn lại 17 người, trong đó nhiều người mang thương tật suốt đời (Lịch sử đấu tranh của Đảng bộ và nhân dân xã Điện An 1930-1975, NXB Đà Nẵng, 2010, trang 180).
Nhân chứng kể rằng, sau trận thảm sát, cả vùng Phong Nhứt - Phong Nhị chìm trong tang tóc. Mùi thuốc súng và máu người ám khắp ruộng đồng.
Cây Da Dù, nơi từng tỏa bóng mát yên bình, giờ trở thành chứng nhân câm lặng của tội ác chiến tranh. Trước tội ác man rợ ấy, cấp ủy và các đoàn thể xã Điện An đã phát động một cuộc đấu tranh chính trị quy mô lớn.
Hàng trăm người dân khiêng xác nạn nhân xuống tận đồn Xã Lễ, giương biểu ngữ, hô khẩu hiệu phản đối, tố cáo hành động dã man của quân Nam Triều Tiên và chính quyền tay sai.
Dưới sức ép của quần chúng và sự chứng kiến của nhiều phóng viên quốc tế, phía Mỹ - chính quyền Sài Gòn buộc phải nhận trách nhiệm, đồng ý bồi thường nhân mạng và tài sản cho nhân dân.
Cuộc đấu tranh ấy là một thắng lợi chính trị to lớn, thể hiện tinh thần kiên cường, bất khuất của nhân dân Điện An, đồng thời vạch trần tội ác chiến tranh ngay giữa vùng tạm chiếm.
Mảnh đất từng chia cắt, đẫm máu và nước mắt ấy nay đã xanh bóng cây, rộn tiếng xe qua lại. Nhưng trong sâu thẳm lòng người, vết thương cây Da Dù vẫn chưa bao giờ khép.
Chiến tranh có thể đã qua đi, song ký ức vẫn ở lại - trong lòng người, trong từng tấc đất, trong những địa danh đã từng thấm máu và nước mắt nhân dân.































