Đón Tết dưới rừng thốt nốt
Hơn 30 năm trong quân ngũ, tôi có hai lần đón Tết Nguyên đán trên đất nước Campuchia. Phong tục ngày Tết cổ truyền có sự khác biệt, nhưng mỗi lần đón Tết tại đất nước chùa tháp đều để lại trong tôi những ký ức khó phai mờ.
Bánh chưng và bánh tét
Tết Quý Sửu 1973 đối với chúng tôi rất đặc biệt, bởi vài ngày trước Giao thừa, Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam được ký kết. Con đường dẫn đến hiệp định này không hề đơn giản. Hàng vạn đồng đội của chúng tôi đã ngã xuống tại các chiến trường khốc liệt như Thành cổ Quảng Trị, Đường 13-Tàu Ô-Xóm Ruộng, Long Khốt...
Trước khi hành quân xuống nhổ bót, giải phóng dân dọc tuyến biên giới Tây Nam từ Tà Nu-Sóc Con Trăng-Thông Bình đến Hồng Ngự, chúng tôi đón Tết Quý Sửu trong phum Tà Rây, dưới tán rừng thốt nốt. Tôi nhớ như in Tết ấy, chúng tôi đón xuân trong nhà mẹ Mây ở ngã tư lộ đỏ.

Cây thốt nốt. Ảnh minh họa: baoangiang.com.vn
Nhà mẹ nghèo, một mình nuôi con gái, nhưng tấm lòng mẹ thì rộng mở. Mẹ coi chúng tôi như những đứa con ruột thịt của mình. Dường như mẹ hiểu phong tục tập quán đón Tết của người Việt Nam nên mẹ dặn con gái Sa An giúp bộ đội trang trí nhà cửa và gói bánh chưng, bánh tét theo phong tục truyền thống. Sa An năm đó vừa tròn 18 tuổi. Da ngăm đen, mái tóc dài, đôi mắt lúng liếng và nụ cười tỏa nắng, Sa An lộng lẫy như đóa hoa giữa cánh rừng thốt nốt.
Em cùng tôi đi chợ mua hoa, gạo nếp, đậu xanh và thịt lợn về gói bánh chưng. Không có lá dong, Sa An vào rẫy cắt lá chuối, lá thốt nốt để gói bánh.
Chiều Ba mươi Tết, chúng tôi dọn dẹp, trang trí nhà cửa đón xuân. Một đồng đội của tôi quê ở Thái Bình khá rành gói bánh chưng, còn Sa An gói bánh tét theo cách của người Campuchia. Đêm Ba mươi Tết, trời se lạnh, chúng tôi quây quần bên bếp lửa canh nồi bánh chưng, bánh tét. Mẹ Mây nhìn chúng tôi với ánh mắt âu yếm. Trong ánh lửa bập bùng, tôi thấy đôi má Sa An ửng hồng, đôi mắt em như có ngàn vạn vì sao lấp lánh.
Chúng tôi thức trọn đêm Giao thừa. Chiều mồng Một Tết, chúng tôi sẽ rời phum Tà Rây để bước vào chiến dịch. Điều ấy mẹ Mây và Sa An không hề biết. Cho đến khi chúng tôi thu dọn đồ đạc chuẩn bị hành quân, Sa An mới “hốt hoảng” chất vấn: “Chưa đón Tết xong mà các anh đã đi. Mẹ và em buồn lắm đấy”.
Không chỉ có Sa An buồn mà chúng tôi cũng buồn khi phải xa mẹ Mây và em gái Campuchia thân thiết như người thân trong gia đình. Hoàng hôn buông xuống, chúng tôi rời phum Tà Rây. Tôi nhớ mãi ánh mắt của Sa An. Hình như em đang khóc. Chiến dịch khốc liệt, chiến trường nhiều đêm thức trắng. Chúng tôi nhổ các bót dọc biên giới đúng kế hoạch. Chính phút giây cận kề cái chết, tôi nhớ đến ánh mắt của Sa An và của mẹ Mây. Hình như mẹ và em vẫn theo sát chúng tôi trong suốt chặng đường chiến dịch.
Thị xã không người
Tết Nguyên đán Kỷ Mùi 1979, chúng tôi đón năm mới tại thị xã Siem Reap. Đó là ngày 28-1-1979. Tháng trước đó, theo kế hoạch, tôi theo Sư đoàn 5 từ Kratie vượt sông Mê Công đánh địch, tiến lên giải phóng thị xã Siem Reap. Phương án thay đổi, lật cánh, tôi cùng Sư đoàn 302 hành quân dọc Quốc lộ 7, qua phà Nic Nương, qua Phnom Penh, tiến lên Siem Reap.
Chiều Ba mươi Tết năm ấy, chúng tôi đến thị xã Siem Reap. Tôi không ngờ Siem Reap nổi tiếng thơ mộng, cách đền Angkor không xa lại là thị xã không người. Một du kích người Campuchia cho biết, bọn phản động Pol Pot đã lùa bà con vào trại tập trung mà chúng gọi là công xã. Tôi sốt sắng hỏi: “Công xã cách đây bao xa?”. “Cách đây ba cây số,” người du kích trả lời. Hoàng hôn buông xuống, lại sắp đón Giao thừa, tôi hẹn sáng mồng Một Tết sẽ đến công xã thăm bà con.
Tổ công tác tiền phương của chúng tôi trú trong ngôi nhà sàn gỗ. Không kịp sửa soạn đón Giao thừa, qua Đài Tiếng nói Việt Nam, chúng tôi cùng đón xuân với bà con nơi quê mẹ thân yêu.
Sáng mồng Một Tết, đúng hẹn, anh du kích Campuchia có hàm răng trắng, dáng người nhỏ thó dẫn chúng tôi đến công xã. Quãng đường không xa nhưng chúng tôi luôn hồi hộp bởi bất cứ lúc nào bọn tàn quân Pol Pot cũng có thể xuất hiện.
Tôi không cầm được nước mắt khi đến công xã. Một căn nhà lợp tôn rộng vài trăm mét vuông, người sống, người chết nằm chen nhau. Người chết thi thể đang phân hủy, mùi hôi thối nồng nặc, ruồi nhặng và cả chim lông đen đang bủa vây. Người sống chỉ còn da bọc xương, mắt trắng dã...
Tôi vội lấy máy ảnh ghi lại khoảnh khắc đau thương này.
Đêm ấy, về nơi trú quân, tôi không thể nào ngủ được. Nhắm mắt là thấy những oan hồn than khóc và mùi thi thể như bóng ma bám riết. Tôi ngồi dậy, thắp nến, viết bài và chuẩn bị phim chụp ảnh, tài liệu để sáng mai nhờ xe chở thương binh, tử sĩ gửi về tòa soạn.
Nhưng không may, những cuốn phim và bài viết của tôi đã không thể về tới tòa soạn. Chiếc xe ô tô ấy đã bốc cháy do trúng mìn của bọn tàn quân Pol Pot.
































